Âm Dương Tà Thần

Chương 021 — Người chưa từng nhập viện

Chương 021 — Người chưa từng nhập viện
Năm giờ bốn mươi, Trung úy Quang gọi An ra khỏi container và nói với cô ba điều, theo đúng thứ tự anh đã nghĩ sẵn.
Điều thứ nhất: trực ban công an huyện đã cử Thượng úy Đạt đến bệnh viện. Anh ấy sẽ làm việc với bệnh viện bằng giấy đề nghị, xin trích hồ sơ tiếp nhận và hình ảnh camera của khoa cấp cứu. Điều thứ hai: chị Hằng là người nhà, chị có quyền nhận diện, và Đạt cần chị có mặt lúc sáu giờ mười lăm. Điều thứ ba thì anh nói chậm hơn, mắt nhìn thẳng vào An.
"Cô đi cùng chị ấy được. Chị ấy không nên đi một mình. Nhưng cô đi với tư cách người đi cùng. Cô không hỏi nhân viên bệnh viện, không chụp sổ, không xin số ai."
"Em biết," An nói.
"Tôi biết cô biết." Quang ngừng một chút. "Tôi nói ra để lát nữa, nếu cô muốn hỏi, cô nhớ là đã có người nói."
An không giận. Cô thấy biết ơn, theo một cách hơi xấu hổ. Có những câu người khác nói hộ thì mình dễ giữ hơn là tự nhắc mình.
Chị Hằng không đi được xe máy. Tay chị vẫn run, và chị đã ngồi trên chiếc ghế nhựa của anh Tùng gần một tiếng, mắt dán vào tấm ảnh chụp lưng người đàn ông trên giường bệnh. An gọi một chiếc taxi của thị trấn. Trong lúc chờ, cô quay lại container lấy ba lô. Ngăn có khóa phía trong vẫn cài, túi niêm đựng tấm bản đồ nằm đúng chỗ, phẳng, cứng, nặng hơn trọng lượng thật của nó. Cô không mở ngăn ấy. Cô chỉ ấn tay lên lớp vải để chắc nó còn đó, như người ta sờ túi áo xem chìa khóa còn không, rồi khoác ba lô lên vai.
Mười hai cây số đường tỉnh vào lúc sáu giờ sáng vắng đến mức tài xế chạy không cần nhìn gương. Hai bên đường, ruộng lúa đã gặt, nước còn đọng trong những ô vuông xám bạc. Chị Hằng ngồi sát cửa, ôm điện thoại trong lòng. Đi được nửa đường, chị nói, không nhìn An:
"Nó không uống được rượu. Uống một chén là đỏ mặt. Nếu người ở bến xe là nó thì nó phải bị làm sao mới ngồi ở đấy."
An không trả lời. Cô ghi câu ấy vào đầu óc, không ghi vào sổ.
Bệnh viện đa khoa huyện là một dãy nhà ba tầng sơn vàng chạy dọc một khoảng sân lát gạch đỏ. Khoa cấp cứu nằm ở đầu hồi, có mái che cho xe cứu thương và một dãy ghế inox bắt vít xuống nền. Lúc sáu giờ mười, ở đó có mùi thuốc sát trùng, mùi cháo và mùi nước mưa chưa khô trên những tấm thảm chùi chân. Một bà cụ ngồi ở đầu dãy ghế, ôm một túi nilon đựng chiếc phích. Một thanh niên nằm co trên ba chiếc ghế cuối, áo khoác trùm kín đầu.
Thượng úy Đạt đến sau họ năm phút. Anh trạc ba mươi, người gầy, đồng phục còn nếp gấp như vừa được rút từ trong tủ ra, quầng mắt thâm như của tất cả mọi người An gặp từ đêm 0 đến giờ. Anh chào chị Hằng trước, rồi chào An, và nói lại đúng những điều Quang đã nói, ngắn hơn. Anh sẽ làm việc với bệnh viện. Chị Hằng đi cùng anh khi cần nhận diện. Cô An ngồi ngoài.
"Em ngồi đây," An nói, và ngồi xuống chiếc ghế inox gần cửa phòng hành chính nhất, đủ gần để thấy người ra vào nhưng không đủ gần để nghe.
Cô ngồi ở đó bốn mươi phút.
Trong bốn mươi phút ấy, cô thấy Đạt nói chuyện với một nữ điều dưỡng mặc áo blouse có viền xanh, tay cầm một tập giấy kẹp. Cô thấy người điều dưỡng lắc đầu hai lần, rồi chỉ về phía cầu thang, rồi gọi điện cho ai đó. Cô thấy một người đàn ông trung niên đeo kính, chắc là bác sĩ trực, đi xuống, đọc tờ giấy đề nghị Đạt đưa, ký vào một góc. Cô thấy chị Hằng đứng sát tường, hai tay ôm lấy khuỷu tay mình. Cô không nghe được gì, và cô thấy mình có thể đoán được gần hết.
Ba năm trước, ở một bệnh viện khác, cô đã ngồi trên một dãy ghế giống hệt thế này. Khi đó không có ai nói với cô câu Quang vừa nói. Một nữ điều dưỡng ca đêm, mệt và tốt bụng, đã kể cho cô nghe qua điện thoại về một bệnh nhân, về những vết bầm, về câu người nhà nói lúc đưa vào. Cô đã viết. Sau đó cô mới biết người điều dưỡng ấy nhớ lẫn hai bệnh nhân cùng phòng. Bài báo được đính chính sau mười một ngày. Gia đình kia không bao giờ được đính chính trong mắt hàng xóm của họ.
Cô biết rằng ngay lúc này, nếu cô đứng dậy, đến bên người điều dưỡng viền xanh khi chị ta ra hành lang uống nước, hỏi một câu thật nhẹ, thì cô sẽ được nghe thêm một điều gì đó. Một chi tiết nhỏ. Màu đôi giày. Vết sẹo trên tay. Và cô sẽ mang chi tiết ấy về, đặt nó vào cột bên phải trong sổ, và nó sẽ nặng hơn mọi chi tiết khác vì cô đã phải xin mới có.
Cô ngồi yên.
Sáu giờ ba mươi lăm, Đạt ra ngoài. Anh không ngồi xuống. Anh đứng trước mặt An và chị Hằng, cầm tập giấy kẹp trên tay, nói như đọc biên bản, và An hiểu anh đang cố nói sao cho chị Hằng chỉ phải nghe một lần.
Bệnh viện có hồ sơ tiếp nhận lúc 01:40. Người bệnh được hai người dân đi xe máy chở vào, họ để lại số điện thoại rồi đi. Người bệnh tự khai tên Huy, nghề thợ điện, khai năm sinh và quê quán nhưng không có giấy tờ để đối chiếu. Bệnh viện đã cấp mã người bệnh và cho đeo vòng tay. Bác sĩ khám thấy hạ thân nhiệt nhẹ, hơi thở có mùi rượu, hai bàn tay trầy xước, không có thương tích nặng. Truyền một chai dịch, ủ ấm. Ba giờ năm phút, người bệnh tự rút kim truyền, bỏ đi khi điều dưỡng sang phòng bên.
"Năm sinh người ấy khai là tám mươi tám," Đạt nói. "Quê ở xã Đông Phù."
Chị Hằng ngẩng lên. "Em tôi chín mốt. Người Bến Mờ."
"Người lú lẫn có thể khai sai," Đạt nói, không phải để phản bác chị mà để chị không phải tự nghĩ ra câu ấy. "Nên tôi chưa dựa vào đấy. Điều dưỡng ca đêm nhớ người bệnh đi ủng cao su đen, cổ cao, chứ không phải giày. Người dân chở vào nói nhặt được ông ấy ở rãnh nước sau bến xe, người ướt hết. Còn ảnh, camera ở cửa cấp cứu có ghi. Chị xem với tôi được không?"
Chị Hằng đi theo anh vào phòng hành chính. Cánh cửa khép lại sau lưng hai người, không đóng hẳn.
An nhìn xuống cuốn sổ trên đùi. Cô đã kẻ sẵn hai cột từ lúc nửa đêm. Bây giờ cô viết thêm vào cột bên phải, bằng bút chì: "Ủng cao su đen cổ cao (theo điều dưỡng, qua Th/úy Đạt). Có mùi rượu. Năm sinh khai: 1988. Quê khai: Đông Phù." Rồi cô viết sang cột bên trái, cột của những gì đã được đo, thấy, chạm vào: "Huy: giày bảo hộ, đế vàng, rãnh chữ V. Dấu đế chữ V ở bếp, ở hố ga." Cô không nối hai cột bằng mũi tên. Một người có thể thay giày. Một người lạnh và lú có thể khai sai năm sinh. Không có dòng nào trong số ấy là câu trả lời. Chúng chỉ làm cho câu hỏi hẹp lại.
Năm phút sau, cửa phòng hành chính mở. Chị Hằng đi ra trước, Đạt đi sau. Mặt chị không có biểu cảm gì cả, và chính điều đó làm An đứng dậy.
"Tối quá," chị nói. "Nó cúi đầu. Có một chỗ nó ngẩng lên, nhưng nhòe. Tóc dài hơn. Em tôi cắt tóc ngắn, tuần trước còn đi cắt." Chị dừng lại. "Mà cũng có thể là nó. Mất hai ngày thì tóc không dài ra được. Nhưng ướt thì tóc trông khác. Tôi không biết. Tôi là chị nó mà tôi không biết."
Đạt nhìn An. Ánh nhìn ấy không phải để hỏi ý kiến cô, mà như để xác nhận rằng cô cũng hiểu tình huống: người nhà không nhận ra được qua một khung hình nhòe là chuyện bình thường. Nó không chứng minh điều gì theo hướng nào cả.
"Tôi còn hai việc," Đạt nói. "Tôi hỏi bên đội điện. Và tôi cho người ra bến xe."
Anh gọi điện ngay ở hành lang, đứng quay lưng về phía họ. An chỉ nghe được những mẩu câu: "…danh sách thợ… cả người đã nghỉ… Đông Phù… tám mươi tám…" Anh cúp máy, gọi tiếp một cuộc khác, giọng nhanh và cụ thể hơn, đọc một địa chỉ.
Chị Hằng ngồi xuống chiếc ghế cạnh An. Hai người ngồi im một lúc. Bà cụ ôm phích ở đầu dãy ghế đã ngủ gật. Ngoài sân, một chiếc xe cứu thương lùi vào, đèn quay tắt, không có còi.
"Nếu không phải nó," chị Hằng nói, rất nhỏ, "thì nó vẫn ở dưới ấy."
"Vâng," An nói.
Đó là câu duy nhất An nói được mà không phải là lời nói dối.
Sáu giờ năm mươi hai, điện thoại của Đạt đổ chuông. Anh nghe, hỏi lại hai lần, rồi bước về phía họ, chậm. An đã thấy dáng đi ấy ở nhiều người trong nghề của anh, những người phải mang tin đến mà không biết tin ấy là tốt hay xấu đối với người nghe.
Đội trưởng đội dịch vụ điện, anh Toàn, xác nhận đội có một thợ cũ tên Nguyễn Đức Huy, sinh năm 1988, quê Đông Phù, nghỉ việc từ tháng Chạp năm ngoái. Lý do nghỉ, anh Toàn nói tránh, nhưng Đạt nghe ra. Người ấy chưa trả lại đồ bảo hộ của đội, vẫn hay mặc đi làm thuê, và thuê trọ một phòng ở dãy nhà cấp bốn ngay sau bến xe huyện. Tổ tuần tra của công an thị trấn đã đến dãy trọ ấy lúc 06:41. Người đàn ông đang ngủ, quần áo ướt vắt trên dây, đôi ủng cao su đen cổ cao úp ngược ở cửa. Bàn tay trái còn quấn băng gạc. Cổ tay phải còn đeo vòng nhựa trắng của bệnh viện, in mã người bệnh trùng với mã trong hồ sơ tiếp nhận. Anh ta xuất trình được căn cước. Khi tỉnh hẳn, anh ta nói nhớ mang máng có người chở mình vào viện, nhớ mình đã nói tên, nhớ mình bỏ về vì sợ phải trả tiền.
"Anh ta không biết gì về Bến Mờ," Đạt nói. "Không biết có người cùng tên bị mất tích. Tôi đã cho người hỏi kỹ. Đêm qua anh ta uống ở quán đầu bến xe, đi về, trượt xuống rãnh nước. Thế thôi."
Thế thôi.
An nhìn xuống cuốn sổ. Cột bên phải, cột của bài đăng lúc 02:20, bây giờ có một người, một cái tên đầy đủ, một năm sinh, một đôi ủng, một dãy nhà trọ. Một người đàn ông có thật, chẳng liên quan gì đến ngôi nhà số 17, ngoài cái tên mà một nửa đàn ông trong huyện cũng có thể mang, và chiếc áo của một đội điện mà anh ta đã nghỉ làm. Cô kẻ một đường ngang dưới cột ấy, ghi giờ là 06:52, và viết: "Bệnh nhân là Nguyễn Đức Huy, sinh năm 1988, thợ cũ cùng đội. Xác minh bởi công an (căn cước, vòng tay mã người bệnh, xác nhận của đội trưởng). Không phải Huy mất tích ở nhà số 17."
Cô viết thêm một dòng nữa, nhỏ hơn: "Huy chưa từng nhập viện."
Chị Hằng không khóc ngay. Chị gật đầu với Đạt, cảm ơn anh, hỏi anh có cần chị ký gì không. Anh đưa chị một tờ biên bản, chỉ chỗ ký. Chị ký, nét chữ run nhưng không ngập ngừng. Rồi chị đứng dậy, đi ra phía sân, đến cạnh một gốc cây bàng có ghế đá, và đứng quay lưng lại với tòa nhà. Vai chị rung lên. An không đi theo ngay. Có những lúc người ta cần được để yên một mình trong vài phút, và cô biết điều ấy vì chính cô cũng cần được như vậy.
Cô nhìn đồng hồ trên điện thoại: 06:58. Có một tin nhắn của Khải gửi từ năm phút trước. Ba tấm ảnh và một dòng chữ: "Phong vẫn cần bản vẽ nhà 15. Phường hẹn 9 giờ. Chưa có lối nào an toàn qua song chắn."
Cô mở từng tấm ảnh. Tấm thứ nhất là khung hình từ camera dò tìm lúc 04:11: tấm song chắn sắt gỉ, những thanh tròn cách nhau một gang, khoảng tối phía sau. Tấm thứ hai là miệng cống hộp nhìn từ đáy giếng G-3: vòm cuốn gạch xếp nghiêng, mạch vôi vàng xám, rêu xanh sẫm. Tấm thứ ba là bản sơ đồ Khải vẽ lại từ lúc đêm, những chấm đỏ nối thành một đường cong vòng qua đầu bức tường bịt, chạy về phía ranh giới hai nhà, rồi dừng ở một dấu chấm hỏi.
Cô đang phóng to tấm ảnh song chắn thì một giọng đàn ông vang lên ngay sau lưng cô, không to, như người ta lỡ miệng nói thành tiếng một điều mình đang nghĩ.
"Cống Hạ Thủy đấy à?"
An quay lại. Một người đàn ông ngoài sáu mươi đứng trên chiếc thang nhôm ngay sau dãy ghế, tay cầm một bóng đèn tuýp vừa tháo xuống. Ông mặc bộ quần áo công nhân màu xám, ngực áo có thêu tên bệnh viện và dòng chữ "Tổ kỹ thuật". Tóc ông bạc gần hết, cắt ngắn sát. Ông nhìn màn hình điện thoại của An bằng ánh mắt của một người nhận ra một thứ quen thuộc ở một nơi không ngờ tới.
"Bác biết chỗ này ạ?" An hỏi. Cô giữ giọng mình thật bình thường.
Ông bước xuống thang, đặt bóng đèn vào chiếc thùng các-tông dưới chân, rồi nheo mắt nhìn lại tấm ảnh. "Vòm cuốn gạch như thế, ở thị trấn này chỉ có đoạn sau dãy nhà cuối ngõ Hạ Thủy. Còn cái song chắn kia thì…" Ông cười một tiếng ngắn, không vui lắm. "Cái song chắn kia là tôi hàn."
Ông tên Mẫn. Từ năm 1989 đến năm 2001, ông làm thợ cho xí nghiệp thủy nông của thị trấn, tổ nạo vét và sửa chữa cống. Sau khi xí nghiệp giải thể, ông xin vào làm ở tổ kỹ thuật của bệnh viện, sửa điện, sửa nước, thay bóng đèn, đến nay đã hơn hai mươi năm. An hỏi ông có đồng ý cho cô ghi âm không, và giải thích lý do. Ông nhìn cô một lúc, nhìn ra phía gốc bàng nơi chị Hằng đang đứng, rồi gật đầu. Ông đã nghe chuyện ở Bến Mờ từ lúc giao ca. Cả bệnh viện đã nghe.
"Năm chín mươi tư," ông nói, mắt nhìn tấm ảnh trong lúc An bật máy ghi âm. "Xí nghiệp cho hàn song chắn ở đoạn ống tròn ấy, để rác không trôi vào trong, mà người cũng không chui vào được. Trẻ con hay chui cống bắt cá. Tôi với hai người nữa làm mất ba ngày."
"Phía sau song chắn có gì ạ?"
"Một cái hốc." Ông giơ hai tay, ước một khoảng. "Hốc van phụ, trên giấy gọi thế. Tụi tôi gọi là hốc ngồi chờ nước. Rộng chừng này, cao chưa tới đầu người. Có một cái bệ xây cao lên một bên, lúc nước lên thì trèo lên bệ mà ngồi chờ, không ướt. Có cả ống thông hơi bằng gang, to chừng cổ tay, chạy dọc chân tường lên tận mặt đất."
An cảm thấy tim mình đập mạnh hơn, rõ đến mức cô sợ máy ghi âm bắt được tiếng ấy. "Ống thông hơi lên ở đâu ạ?"
"Sân sau nhà bên cạnh. Nhà mé tay phải, nếu đứng ở bờ kênh nhìn vào. Cái chụp gang hình như cái nấm, thấp, sát chân tường chung. Hồi ấy cỏ mọc um tùm, phải phát mới thấy." Ông nhíu mày. "Giờ thì tôi không biết người ta có lấp đi chưa."
Ông kể thêm, không cần An hỏi, những điều mà một người thợ cũ nhớ về một nơi mình từng làm việc. Hốc ấy ẩm nhưng không ngập hẳn, trừ những năm nước to. Không khí trong hốc lúc nào cũng nặng, vì cái ống thông hơi nhỏ, nên tổ ông bao giờ cũng mở nắp giếng ở bờ kênh cho gió lùa vào trước khi xuống. Ở tường trong cùng của hốc có một cánh cửa sắt, thông sang phía dưới nhà số 17. Then cửa gỉ cứng từ trước khi ông vào nghề. Tổ ông không mở, và cũng không có ai bảo mở.
"Nếu có người ở trong hốc," An hỏi, "thì làm thế nào để biết ạ?"
Ông Mẫn nhìn cô, lần đầu tiên thật lâu, như thể ông vừa hiểu cô hỏi câu ấy vì ai.
"Gõ vào ống gang," ông nói. "Đừng gõ vào bê tông. Gang nó đi tiếng tốt hơn. Đứng ở cái chụp mà gõ, người ngồi trên bệ nghe rõ như gõ cửa."
An tắt máy ghi âm lúc 07:14, ghi số điện thoại của ông, hỏi ông có sẵn lòng nói lại những điều ấy với công an và đội cứu hộ không. Ông bảo được, ông làm đến trưa, trưa thì ông rảnh. Rồi ông cúi xuống nhặt chiếc bóng đèn tuýp mới trong thùng các-tông, leo lại lên thang. Đến bậc thứ ba, ông dừng lại, quay đầu, nói thêm một câu, giọng thấp hơn hẳn, như một người thợ già nhắc người khác một điều mà nghề dạy mình từ lâu.
"Cô ạ. Cái ống ấy là ống thở của cả cái hốc. Nếu người ở trong ấy còn sống, thì hơi thở của người ta đang đi ra ở đâu đó trong cái sân nhà bên cạnh. Có khi lâu rồi mà chưa ai cúi xuống nghe."
An đứng yên một giây. Rồi cô bấm số của Khải.
Anh nghe máy ngay hồi chuông đầu tiên, như người đang cầm sẵn điện thoại. Cô nói ngắn, theo thứ tự mà ông Mẫn đã nói cho cô: hốc van phụ phía sau song chắn, bệ cao, ống thông hơi gang to cỡ cổ tay, chụp hình nấm ở sân sau nhà 15 sát chân tường chung, gõ vào ống gang. Cô nói thêm rằng đây là lời của một người thợ cũ, nhớ từ ba mươi năm trước, chưa ai kiểm. Ở đầu bên kia, cô nghe tiếng giấy sột soạt, rồi tiếng Khải thở ra, chậm và dài.
"Trên bản thủy nông có một ký hiệu tôi chưa đọc được," anh nói. "Một vòng tròn nhỏ có hai chữ, nằm sát đường ranh. Tôi tưởng là cột mốc." Anh ngừng lại. "Tôi ra sân sau nhà 15 với anh Sáng ngay bây giờ."
Cúp máy, An đi ra gốc bàng. Chị Hằng đã thôi khóc. Chị đứng nhìn một đàn sẻ mổ những hạt cơm vãi trên nền gạch đỏ trước căng-tin bệnh viện, tay vẫn ôm chiếc điện thoại có tấm ảnh chụp lưng một người đàn ông không phải em mình.
"Chị Hằng," An nói. "Mình về thôi chị. Ở Bến Mờ, người ta vừa tìm được một chỗ để nghe."

Truyện Cùng Thể Loại

Các Đại Năng Đã Để Lại Thần Thức


Lưu ý: Vui lòng tải app để có thể lưu lại thần thức trên truyện này
Tải app để đọc truyện sớm nhất