Chương 027 — Có nên phá tường?
Mười một giờ bốn mươi sáu, An đứng ở miệng giếng G-3 khi lệnh của Sáng đi qua bộ đàm, ngắn đến mức cô phải nghe lại trong đầu mới hiểu hết. Không chờ đến mười hai giờ rưỡi. Chống ngay. Người của Phong xuống trước, đội cứu hộ xuống theo. Y tế ra miệng giếng.
Lối bờ kênh, vốn đã chật, giờ chật thêm. Người của Phong, ba người đàn ông mặc áo phản quang màu vàng, chuyền tay nhau những mảnh vành thép cong như những khúc xương sườn, mỗi mảnh dài chừng nửa mét, sơn chống gỉ màu đỏ cam. Theo sau là những cây cột chống ren, những tấm ván lót, một chiếc máy nén khí đặt trên xe đẩy. Quạt thông gió ở G-3 được chỉnh lên mức cao nhất, tiếng rít của nó lấn át tiếng nước kênh. Hòa đứng cạnh miệng giếng với máy đo khí, đọc to con số mỗi phút một lần.
Đội y tế của bệnh viện huyện đến lúc mười một giờ ba mươi, theo lời hẹn với Sáng từ sáng. Một nữ bác sĩ trạc bốn mươi, tóc cắt ngắn, tên Hạnh, một điều dưỡng nam và một người lái xe. Chiếc xe cứu thương đỗ ở đầu ngõ, cửa sau mở sẵn. Bác sĩ Hạnh không hỏi ai về ngôi nhà. Chị hỏi Sáng những gì đội đã biết về người bị kẹt, rồi hỏi Tiến những ghi chép từ tám giờ sáng, rồi hỏi An, vì An đã ở trạm nghe lúc người bên dưới nói chữ "khát" và chữ "chân".
An đọc cho chị từ sổ của mình. Giờ, câu hỏi, câu trả lời bằng tiếng gõ. Có thương tích. Không đi lại được. Không ngập. Độ trễ tăng dần từ tám giây lên hai mươi lăm giây. Nước có pha muối đường nhỏ qua ống từ mười giờ, mỗi lần một ít, sợi ống giật lại ngày càng chậm. Lần đáp cuối cùng lúc 11:40:22.
Bác sĩ Hạnh nghe xong, gật đầu, rồi nói với Sáng, An và điều dưỡng của chị những điều An ghi lại gần như nguyên văn, vì cô biết mình sẽ cần đọc lại chúng.
Một người đàn ông trưởng thành bị kẹt ba mươi sáu tiếng trong một hốc lạnh, ẩm, thiếu khí thì việc đầu tiên đe dọa anh ta không phải đói. Là mất nước, là thân nhiệt hạ, là thiếu ô-xy kéo dài. Độ trễ tăng dần khi đáp tín hiệu phù hợp với tình trạng lơ mơ do cả ba thứ ấy cộng lại. Chữ "chân" có thể là gãy xương, có thể là bong gân, cũng có thể là một chi bị đè hay bị kẹt lâu. Nếu là chi bị đè, khi gỡ ra phải cẩn thận, vì có những người bị kẹt lâu tỉnh táo cho đến lúc được cứu rồi trụy ngay sau đó. Không cho anh ta tự ngồi dậy, tự đứng. Không cho uống nhiều một lúc. Ủ ấm từ khi còn ở trong ống. Đưa lên bằng cáng mềm, loại cuộn tròn được, vì ống chỉ rộng sáu mươi phân. Truyền dịch ấm ngay ở miệng giếng, trước khi đưa lên xe.
"Bao lâu thì quá muộn?" ai đó hỏi. An không quay lại để xem là ai. Có lẽ là chính cô.
"Tôi không trả lời được câu ấy," bác sĩ Hạnh nói. "Tôi chỉ nói được là càng sớm càng tốt, và đừng vì sớm mà làm anh ấy bị thương thêm."
Mười hai giờ kém năm, ông Lâm đến.
Ông không đến một mình. Đi cùng ông là người tổ trưởng mới của đội phá dỡ, người được giao thay Định từ sáng nay, một người đàn ông thấp, đậm, mặc áo bảo hộ màu cam. Họ đi xuống lối bờ kênh, và ông Lâm dừng lại cách sợi dây ngăn một bước, nhìn đống vành thép, nhìn chiếc máy nén khí, nhìn những người đang chuyền đồ xuống giếng. An thấy ông đã nghe tin từ trước. Cô thấy ông đã tính toán trên đường đến.
"Anh Sáng," ông nói, đủ to cho những người xung quanh nghe. "Tôi nghe người ta bảo tiếng anh thợ điện ở ngay trong bếp. Dưới nền bếp. Thế thì sao phải chui cống? Tôi có máy ở đầu ngõ. Cho máy vào, đập bức tường bếp bên trái, xuống thẳng cái buồng ở dưới. Mười lăm phút là thấy người."
Sáng không quay lại ngay. Anh đang nói vào bộ đàm với người của Phong ở dưới cống. Phải mất vài giây anh mới quay sang, và An thấy trên mặt anh một vẻ mệt mỏi mà cô chưa thấy từ đêm 0.
Trước khi Sáng kịp nói gì, một giọng khác vang lên ở phía sau.
"Đập đi."
Chị Hằng đứng ở mép lối nhỏ dọc hông nhà số 15. Chị đã nghe. Chị đã nghe mọi thứ từ sáng, chỉ trừ bản ghi của micro hai, và An biết những người xung quanh đã kể cho chị phần còn lại theo cách người ta vẫn kể. Giọng anh thợ điện ở dưới bếp. Nó gọi tên chị. Nó bảo lạnh lắm.
"Nó ở ngay đấy," chị nói, giọng run nhưng to. "Nó gọi ở ngay đấy. Sao không đập? Các anh còn chờ cái gì?"
Bên cạnh chị, Cường đứng cúi đầu. Cậu đến từ lúc mười một giờ, cùng mẹ, xin được đứng ở đây. Cậu không nói gì, nhưng An thấy cậu nhìn về phía ngôi nhà số 17, về phía bức tường bếp bên trái mà cậu đã đứng trước nó đêm 0, và cô biết cậu cũng đang nghĩ đúng điều chị Hằng nói.
Sáng nhìn Phong. Phong vừa từ dưới giếng trèo lên, quần ướt đến gối, găng tay còn dính bùn. Anh tháo mũ, lau mặt bằng mu bàn tay, và An thấy anh không giận. Anh chỉ mệt, và anh biết mình phải nói một điều mà người nghe không muốn nghe.
"Chị ơi," anh nói với chị Hằng, không với ông Lâm. "Chị cho tôi hai phút. Tôi nói xong rồi chị muốn làm gì thì chị làm."
Anh rút từ túi áo ra một tờ giấy gấp tư, bản in khổ A4 tấm sơ đồ chồng lớp mà Khải đã in cho anh từ sáng. Anh trải nó lên nắp thùng dụng cụ, lấy hai chiếc cờ lê chặn hai đầu. Rồi anh chỉ, từng chỗ một, chậm như dạy một người học việc.
Đây là bức tường bếp bên trái của nhà số 17. Nó không phải tường ngăn. Nó là tường chịu lực, đỡ đầu dầm của sàn tầng hai và chiếu nghỉ cầu thang. Đây là buồng van K2, theo bản vẽ cũ, nằm ngay dưới bức tường ấy. Nóc của nó là một cái vòm gạch, xây từ thời trước nữa, chưa ai kiểm tra nó còn chắc đến đâu. Đây là cái hốc mà đội cứu hộ thấy được bằng camera, thấy được cái đế giày, nghe được tiếng gõ. Nó không nằm dưới bếp. Nó nằm ở đây, dưới ranh giới giữa sân nhà 15 và bức tường chung, cách bức tường bếp nhà 17 chừng một mét rưỡi. Và giữa cái hốc ấy với buồng K2 là một bức tường gạch có một cánh cửa sắt mà theo lời một người thợ cũ, then cài ở phía hốc.
"Nếu đập bức tường bếp bằng máy," Phong nói, "thì máy rung. Cái vòm của K2 có thể sập. Nếu nó sập, gạch và đất đổ vào K2, đè lên bức tường chung với cái hốc. Người ở trong hốc đang nằm sát bức tường ấy." Anh dừng lại. "Và nếu vòm không sập, người của anh Sáng xuống được K2, thì họ đứng trước một cánh cửa sắt mà họ không mở được từ phía ấy. Phải cắt cửa, trong một cái buồng ngay dưới một bức tường vừa bị đập. Mười lăm phút là thấy người. Nhưng có khi thấy người ở dưới một đống gạch."
Chị Hằng nhìn tờ giấy. An thấy chị không hiểu hết những đường kẻ, những con số. Nhưng chị hiểu chữ "sập". Môi chị run lên.
"Thế còn tiếng nó gọi trong bếp?" chị hỏi. "Nếu nó không ở dưới bếp thì sao nó gọi ở dưới bếp?"
Tất cả mọi người quay sang An. Cô không biết từ lúc nào mình đã trở thành người phải trả lời câu hỏi ấy. Có lẽ từ lúc cô viết hai chữ "kênh A" và "kênh B" lên hai trang sổ.
Cô bước đến cạnh chị Hằng. Cô không mở sổ. Cô nói theo trí nhớ, những điều cô đã ghi lúc tám giờ ba mươi lăm.
"Chị ạ. Sáng nay có hai thứ cùng giống giọng em chị. Một thứ ở dưới cái chụp gang bên sân nhà 15. Nó nghe được người ta gõ, gõ lại đúng nhịp, đếm được đến năm, trả lời được có hay không. Đội cứu hộ thấy được chiếc giày của người ấy qua camera. Người ấy cử động khi được gõ. Thứ kia ở trong bếp nhà 17. Nó nói nhiều hơn, rõ hơn, nhưng nó không nghe thấy ai gõ cả. Nó nói nước lên đến ngực. Người ở bên sân nhà 15 thì gõ là không ngập." Cô dừng lại. "Lúc tám giờ ba mươi ba, cả hai thứ ấy cùng có tiếng một lúc. Một người không ở hai chỗ cùng một lúc được."
"Thế cái giọng trong bếp là ai?"
"Em không biết."
Đó là câu trả lời thật nhất mà cô có. Cô thấy chị Hằng nhìn cô, chờ một câu nữa, một lời giải thích, một điều gì đó để bám vào. Cô không có. Ba năm trước, cô đã cho một người khác một lời giải thích khi cô chưa có đủ bằng chứng, chỉ vì người ấy cần nó. Cô không làm thế nữa.
"Em chỉ biết là người ta tìm thấy em chị bằng thứ nghe được tiếng gõ," cô nói. "Không phải bằng thứ kia. Nên người ta đi theo thứ nghe được tiếng gõ."
Chị Hằng không nói gì nữa. Chị nhìn tờ sơ đồ, nhìn cái ô nhỏ mà Phong vừa chỉ, cái ô nằm dưới ranh giới giữa hai nhà, rồi chị lùi lại một bước, đứng sau sợi dây ngăn. Cường đứng cạnh chị, đưa tay đỡ khuỷu tay chị, và An thấy cậu đã thôi nhìn về phía bức tường bếp.
Ông Lâm vẫn đứng đó. "Tôi chỉ đề xuất thôi," ông nói. "Tôi có máy, tôi muốn giúp."
"Hiện trường này đang có điều tra," Quang nói. Anh đã đứng cạnh ông Lâm từ lúc nào. Giọng anh đều như đọc biên bản. "Không ai đưa máy vào nhà số 17 khi chưa có ý kiến của cơ quan điều tra và đánh giá kết cấu bằng văn bản. Kể cả để cứu người. Nhất là để cứu người." Anh dừng một giây. "Anh Lâm, nếu anh muốn giúp, anh cho người của anh mang thêm bạt, đèn và ván lót ra lối bờ kênh. Đội anh Phong đang cần."
Ông Lâm nhìn Quang một lúc, rồi gật đầu, quay đi cùng người tổ trưởng. An nhìn theo dáng ông. Cô không nghĩ ông muốn hại ai. Cô nghĩ ông thật sự muốn một cách nhanh để mọi chuyện kết thúc, và cách nhanh ấy trùng khớp với cái máy đang đỗ ở đầu ngõ, với một hợp đồng phá dỡ đang chậm tiến độ ba ngày. Cô ghi lại đề xuất của ông, giờ, nguyên văn, và lý do bị bác. Cô không ghi động cơ. Cô chưa có gì để ghi động cơ.
Sáng nói với tất cả những người đứng quanh miệng giếng, và cũng là nói qua bộ đàm cho những người ở dưới, quyết định mà anh đã có từ mười giờ sáng nhưng giờ mới nói thành lời. Đi đường cống. Chống đoạn ống nứt bằng ba vành thép, người của Phong làm, dự kiến xong lúc một giờ mười lăm. Cắt song chắn bằng kìm thủy lực, không lửa, không đĩa cắt, dự kiến xong lúc một giờ bốn mươi. Đưa người ra bằng cáng mềm, ủ ấm từ trong ống. Y tế chờ ở miệng giếng. Mọi lúc phải có người đo khí ở hố ga và ở chụp gang. Mực nước ở hố ga đọc mười lăm phút một lần, chạm năm mươi phân thì rút toàn bộ, không ngoại lệ.
Ông Tâm, người đã đứng ở mép lối nhỏ suốt từ lúc ông Lâm đến mà không nói một câu, bước lên một bước.
"Anh Sáng," ông nói. "Nước bên nhà 17 đang trên vạch. Lúc nãy nó có giọng. Có thể lát nữa nó lại có. Người của anh xuống dưới ấy, gần cái buồng ấy hơn bất cứ ai từ đêm 0. Tôi xin anh một điều."
Sáng nhìn ông.
"Ở dưới ấy đừng gọi tên ai. Không gọi tên người bị kẹt, không gọi tên nhau. Gọi bằng số. Ai nghe thấy tiếng gọi mà không phải qua bộ đàm thì đừng đáp. Báo lên rồi đi tiếp việc của mình."
Sáng gật đầu ngay, không cần nghĩ. "Đội tôi làm thế từ đêm qua." Rồi anh nói vào bộ đàm, nhắc lại lời ông Tâm, từng chữ, và nghe từng người ở dưới đáp lại bằng số của mình. Một. Hai. Ba. Bốn.
Mười hai giờ ba phút, có tiếng đáp.
An đang đứng ở miệng giếng thì bộ đàm của Tiến từ sân sau nhà số 15 rè lên. Một tiếng gõ. Chỉ một. Sau năm mươi mốt giây kể từ lúc gõ kiểm tra. Không đủ nhịp, không đúng mã, chỉ một tiếng đục như một bàn tay buông xuống nền. Nhưng có.
Cô thấy vai mình chùng xuống, và cô không biết mình đã căng vai lên từ lúc nào.
Mười hai giờ mười tám, gõ kiểm tra. Không có tiếng đáp.
Mười hai giờ hai mươi, Hòa đọc mực nước ở hố ga qua người của Phong: ba mươi mốt phân. Lúc mười một giờ là hai mươi hai. Nước đang lên nhanh hơn Khải tính.
Mười hai giờ hai mươi lăm, Khải gọi bộ đàm từ sân sau nhà số 15. Giọng anh bình thường, quá bình thường, theo cách An đã học được nghĩa là anh đang lo. Máy đo khí ở chụp gang: ô-xy mười tám phẩy hai. Sáng nay là mười tám phẩy tám. Mẩu băng giấy buộc ở đầu cần trong hố ga không còn nghiêng nữa. Nó thõng thẳng.
"Gió không vào nữa," Khải nói. "Nước lên trong ống tròn, bịt bớt đường gió từ G-3. Cái hốc đang hết đường thở."
An nhìn Sáng. Sáng đã hiểu trước cô. Anh ra lệnh cho Tiến đặt quạt thổi nhỏ lên chụp gang ở sân sau nhà số 15, đưa ống gió qua khe dưới vành chụp, thổi khí sạch xuống hốc từ phía trên, thay cho đường gió từ cống đã bị nước lấp. Tiến báo lại sau bốn phút: đã thổi. Ô-xy ở miệng chụp không đo được nữa, vì giờ không khí đi xuống chứ không đi lên. Không ai biết bên dưới đang ra sao.
Mười hai giờ ba mươi mốt, gõ kiểm tra. Bốn mươi giây sau, một tiếng gõ. Yếu hơn lần trước.
Mười hai giờ ba mươi sáu, gõ kiểm tra. Không có gì.
Mười hai giờ bốn mươi, An đứng ở miệng giếng G-3, tay cầm cuốn sổ đã mở mà không viết được gì. Bên dưới cô, trong lòng ống tròn, người của Phong đang dựng vành thép thứ nhất dưới vết nứt. Cô nghe tiếng sắt chạm bê tông, tiếng cờ lê vặn ren, tiếng một người đàn ông chửi thề khe khẽ khi nước lạnh tràn vào ủng. Ở sân sau nhà số 15, cách cô hai mươi mét, những tiếng gõ đáp đã thưa đến mức mỗi lần có, người ta phải hỏi lại nhau xem có nghe nhầm không. Trong căn bếp nhà số 17, theo lời ông Tâm qua bộ đàm, micro hai đã im từ 11:58, và chưa ai biết sự im lặng ấy có nghĩa gì.
Phong trèo lên miệng giếng lần thứ hai, nhìn Sáng, rồi nhìn đồng hồ.
"Vành thứ nhất xong," anh nói. "Hai vành còn lại thì tôi cần bốn mươi phút."
"Không có bốn mươi phút," Sáng nói.
Phong im một lúc. Rồi anh gật đầu, quay lại phía giếng, và hét xuống cho người của mình một câu mà An sẽ còn nhớ rất lâu, không phải vì nó hay mà vì nó thật:
"Làm nhanh lên. Nhưng đứa nào làm ẩu thì tao đuổi về."
Sáng cài lại dây đai, kiểm tra máy đo khí trên ngực, nhìn An một giây. Cô thấy trong mắt anh không có câu hỏi, chỉ có một quyết định đã được đưa ra.
"Xuống," anh nói vào bộ đàm.