Chương 030 — Cánh cửa khóa ngược
Bảy giờ tối ngày 2, lần đầu tiên kể từ đêm 0, container của nhóm không có ai nói chuyện về Huy.
Không phải vì người ta quên. Mà vì người ta đã nói hết. Huy đang nằm ở khoa hồi sức bệnh viện huyện, có chị gái ở bên, có chai dịch treo trên đầu, có bốn mũi khâu ở cẳng tay trái và một thanh nẹp ở cổ chân. Những câu hỏi còn lại về anh đều không trả lời được ở đây. Đội cứu hộ đã rút khỏi tuyến ngầm từ ba giờ chiều. Sáng ngủ hai tiếng trên ghế lái xe chuyên dụng, rồi quay lại ngồi cạnh Khải, mắt đỏ, tay cầm cốc trà đã nguội. An tỉnh dậy lúc sáu giờ, trên chiếc ghế nhựa của anh Tùng, với chiếc áo khoác của Vy trên vai, và bây giờ ngồi ở góc container, đọc lại cuốn sổ của mình từ đầu, không viết thêm gì.
Khải mở đoạn video từ camera gắn mũ của Tiến, quay từ 14:02 đến 14:50, và dừng nó ở khung hình 14:05:31.
Cánh cửa sắt chiếm gần hết khung hình. Đèn mũ của Tiến rọi chéo từ dưới lên, làm mặt thép gỉ nổi lên từng vảy như da một con vật già. Ở mép phải khung hình là một phần ống thông hơi bằng gang thõng xuống từ trần, đường kính đã biết, mười phân, và Khải dùng nó làm thước. Anh đo trên màn hình, rồi đo lại bằng một vật thứ hai: bàn tay đeo găng của Tiến, lúc anh đặt nó lên mép cửa ở khung hình 14:05:44. Găng của đội cứu hộ, Sáng nói, dài hai mươi bốn phân từ cổ tay đến đầu ngón giữa. Hai cách đo cho hai con số lệch nhau ba phân. Cánh cửa rộng chừng bảy mươi phân, cao chừng một mét hai.
Đó là con số anh có trước tám giờ. Đến tám giờ rưỡi, anh có những con số tốt hơn.
Lúc bảy giờ bốn mươi, khi van ở trạm cống đã mở lại từ bốn giờ chiều và nước ở hố ga đã rút xuống còn hai mươi tư phân, Sáng cho Tiến xuống một lần cuối, cùng kỹ thuật viên hình sự của Quang. Không phải để cứu ai. Để ghi lại một hiện trường mà sáng mai có thể đã khác: nước sẽ lên xuống thêm hai lần nữa trong đêm, và không ai biết bùn sẽ phủ lên những gì. Phong kiểm tra lại ba vành thép chống trước khi cho họ đi. Ông Tâm, ngồi ở trạm micro, xác nhận nước ở ngưỡng đông nhà số 17 đang dưới V0 từ 16:31.
Bốn mươi lăm phút sau, Tiến và kỹ thuật viên trở lên với một thẻ nhớ đầy ảnh và một tờ giấy ghi số đo bằng bút chì, nhòe nước ở mép.
Cánh cửa rộng sáu mươi tám phân, cao một mét mười tám. Tấm thép dày sáu li, tán đinh vào một khung sắt góc chôn trong tường gạch. Thanh then tròn đường kính ba mươi hai li, luồn qua hai vòng khuyên hàn chết vào mặt cửa và vào khung. Chiếc khóa móc treo dưới then đã gỉ thành một khối, không còn đọc được nhãn. Chiếc nêm gỗ nhét vào khe giữa mép cửa và khung, ở phía có then, là gỗ cứng, đen như than, đã bị nén đến mức kỹ thuật viên không rút ra được bằng tay và không được phép dùng dụng cụ. Trên mặt gỉ quanh then, có những vệt cạo mới, trắng ra, kích thước ngón tay người, cùng hướng với động tác kéo then. Kỹ thuật viên chụp chúng kèm thước.
Khải đặt những số đo ấy lên màn hình, cạnh khung hình 14:05:31, và bắt đầu làm việc mà anh vẫn làm với mọi kết cấu anh chưa hiểu: hỏi nó mở về phía nào.
Trên mặt cửa phía hốc, không có bản lề. Anh đã xem đi xem lại cả bốn mươi tám phút video, và ảnh của kỹ thuật viên chụp sát mép cửa bên trái, phía đối diện với then. Không có núm bản lề nào lòi ra. Chỉ có mép thép áp sát vào một gờ sắt góc của khung, gờ chặn nằm về phía hốc. Như thế nghĩa là bản lề ở phía bên kia, phía buồng K2, và cánh cửa mở về phía K2. Muốn mở nó từ phía hốc thì phải đẩy. Muốn mở nó từ phía K2 thì phải kéo.
Và cái then, cái khóa, cái nêm, cả ba đều ở phía hốc.
Anh vẽ ra một sơ đồ đơn giản trên giấy, hai hình chữ nhật cạnh nhau, một ghi K2, một ghi HP, giữa chúng là một đoạn thẳng có mũi tên chỉ hướng mở. Rồi anh viết ra những gì cơ cấu này làm được, và những gì nó không làm được, theo cách anh viết về một con đê hay một cửa cống.
Nếu nước dâng ở phía K2, nước sẽ ép cánh cửa vào gờ chặn ở phía hốc. Cửa tự đóng kín hơn khi nước càng lên. Không cần then để giữ nước từ phía K2. Nếu nước dâng ở phía hốc, từ cống, từ kênh, nước sẽ đẩy cánh cửa mở về phía K2. Lúc ấy then là thứ duy nhất giữ cho nước cống không tràn vào K2 và lên căn bếp phía trên. Vậy là, xét về nước, cái then ở phía hốc có lý: nó bảo vệ ngôi nhà khỏi nước từ cống dồn lên.
Nhưng xét về người, thì khác. Một người đứng ở phía K2 muốn ra hốc thì phải kéo cánh cửa về phía mình. Có then ở phía hốc, người ấy không kéo được. Không với tới then. Không mở được khóa. Không rút được nêm. Còn một người đứng ở phía hốc, nếu muốn, có thể rút then, mở khóa, và đẩy cửa vào K2. Cánh cửa này, như nó đang tồn tại, cho người ở phía hốc toàn quyền quyết định nó đóng hay mở. Người ở phía K2 không có quyền gì cả.
Và phía K2 là phía của cầu thang. Phía của lối xuống từ căn bếp nhà số 17.
Anh viết dòng ấy ra, rồi viết ngay dưới nó, vì anh biết mình đang bước gần đến một kết luận mà dữ liệu chưa cho phép: "Cơ cấu hiện tại: then, khóa, nêm ở phía HP. Khống chế từ phía HP. Phía K2 không mở được. Mục đích: chưa xác định. Có thể chặn nước từ cống vào K2. Có thể chặn người từ K2 ra. Có thể cả hai. Có thể khác."
An đọc qua vai anh. Cô không nói gì, chỉ chỉ vào chữ "khác" bằng đầu bút. Khải hiểu cô hỏi gì. Anh lắc đầu. Anh không biết điền gì vào đó, và anh sẽ không điền.
Rồi anh quay lại ảnh của kỹ thuật viên, vì có một thứ anh đã thấy từ khung hình 14:05:44 mà chưa kịp nghĩ.
Trên mặt cửa phía hốc, ở mép bên phải, phía có then, cao hơn then chừng mười phân, có hai cặp đầu đinh tán. Bốn cái mũ đinh tròn, xếp thành hình chữ nhật nhỏ, cách nhau chừng sáu phân. Chúng không giữ gì cả. Không có vòng khuyên, không có tấm ốp, không có lỗ khóa nào ở giữa chúng. Chỉ là bốn mũ đinh nằm trơ trên mặt thép, gỉ cùng màu với mặt thép, rõ ràng là đã ở đó từ khi cánh cửa được làm ra.
Một chiếc đinh tán có hai đầu. Một đầu là cái mũ tròn này. Đầu kia bị đập bẹt ở mặt bên kia tấm thép, giữ chặt một thứ gì đó ở phía bên kia. Bốn chiếc đinh tán xếp thành hình chữ nhật nhỏ, ở độ cao ngang ngực người, ở mép cửa phía đối diện bản lề, là cách người ta tán một tấm ốp then, hay một tay nắm, vào cánh cửa. Nhưng tấm ốp ấy không nằm ở phía hốc.
Nó nằm ở phía K2.
Khải gọi Phong lại xem. Phong nhìn ảnh rất lâu, ngón tay gõ gõ lên mép bàn, rồi nói đúng điều Khải nghĩ: kiểu tán ấy là để giữ một bộ then hay một tay nắm ở mặt bên kia. Còn hai vòng khuyên giữ thanh then ở phía hốc thì không tán, mà hàn. Mối hàn xấu, dày, không đều, của một người hàn vội bằng que hàn tay, không phải mối tán của xưởng làm cửa.
"Hai đời phụ kiện," Phong nói. "Đời đầu tán ở mặt kia. Đời sau hàn ở mặt này."
"Có thể mặt kia vẫn còn then cũ," Khải nói.
"Có thể. Có thể bị tháo rồi. Không sang được thì không biết."
Không ai sang được. Khải ghi lại: "Mặt HP: bốn mũ đinh tán không dùng, ở mép đối diện bản lề, cao hơn then hiện tại 10 cm. Phù hợp với phụ kiện (then hoặc tay nắm) gắn ở mặt K2. Vòng khuyên của then hiện tại: hàn tay, không tán. Hai thời kỳ lắp đặt khác nhau. Thời điểm: chưa xác định."
Rồi anh làm việc cuối cùng, việc mà anh đã để dành vì anh biết nó sẽ mất thời gian: mở lại bản thủy nông.
Anh đã nhìn tờ giấy tím đủ nhiều để biết mọi đường kép trên đó. Nhưng anh chưa bao giờ phóng to vùng giữa ô chữ nhật K2 và ô chữ nhật nhỏ mà bây giờ anh biết là hốc van phụ. Ở đó, trên ảnh chụp anh làm lúc chiều ngày 1, có một đoạn thẳng ngắn cắt ngang bức tường chung của hai ô, với một ký hiệu cánh cửa vẽ theo kiểu cũ: một cung tròn một phần tư, chỉ hướng mở. Anh phóng to lên. Cung tròn vẽ về phía K2. Cửa mở về phía K2, đúng như cánh cửa thật.
Bên cạnh ký hiệu ấy có một dòng chữ nhỏ. Anh tăng độ tương phản. Rồi tăng nữa, như anh đã làm với bản cải tạo khi tìm ra đường viền của tờ giấy dán đè.
Dòng chữ hiện ra thành hai lớp.
Lớp dưới, bằng mực nho, cùng nét chữ với mọi dòng khác trên bản vẽ: "Cửa K2–HP 0,7 × 1,2. Mở về K2. Then phía K2."
Hai chữ cuối cùng, "phía K2", bị gạch bằng một nét ngang. Ngay phía trên, chen vào khoảng trống giữa hai dòng, bằng một thứ mực khác, xanh đen, nét chữ đứng hơn, ngắn hơn, của một bàn tay khác: "phía HP".
Khải ngồi thẳng lưng lên. Anh gọi An. Rồi gọi Sáng. Rồi, vì anh biết mình cần thêm một đôi mắt không mang sẵn câu hỏi, anh gọi cả Phong.
Họ nhìn màn hình. Không ai cần anh giải thích. Một bản vẽ thiết kế cánh cửa với then ở phía K2, phía người đi xuống từ căn bếp, để người ở dưới tự mở được cửa sang hốc. Và rồi, ở một thời điểm nào đó, một người nào đó đã lấy bút, gạch hai chữ ấy đi, viết đè lên hai chữ khác. Then phía HP. Phía ngoài lối xuống. Trên cánh cửa thật, ở phía HP có một thanh then hàn vội, một ổ khóa, một chiếc nêm. Ở phía K2, nếu bốn mũ đinh tán kia nói đúng, từng có một bộ then khác.
"Người ta khóa ngược nó lại," An nói, rất khẽ.
"Dữ liệu chỉ nói là bản vẽ được sửa, và cánh cửa có hai đời phụ kiện," Khải nói. Rồi anh dừng lại, vì anh nghe thấy chính giọng mình, và anh nhận ra lần này câu quen thuộc ấy không làm anh yên tâm hơn. "Nó không nói ai sửa. Không nói khi nào. Không nói vì sao."
Anh liệt kê những gì anh có thể nghĩ ra, và viết chúng xuống, từng dòng, không xếp hạng. Có người đổi then sang phía hốc để chặn nước cống dồn ngược vào K2, sau một lần nước đã tràn lên. Có người đổi then để không ai từ ngôi nhà đi xuống K2 rồi ra cống được nữa, vì lý do an toàn, vì một tai nạn. Có người đổi then để giữ một thứ gì đó ở phía K2. Mực xanh đen trên bản vẽ không có ngày tháng. Mối hàn xấu trên cánh cửa không có ngày tháng. Chiếc khóa móc đã gỉ đến mức không đọc được nhãn. Chiếc nêm gỗ đen như than có thể đã ở đó năm năm, cũng có thể năm mươi năm.
Và anh viết thêm một dòng, vì anh không thể không viết: bà Lựu kể, người ta xuống cái lối để cứu người kẹt, rồi người ta đóng cái cửa. Cô Vy ghi lời kể ấy hôm qua, ở cột thứ hai, cột của những gì nghe người khác nói lại. Khải không nối dòng ấy với bản vẽ bằng một mũi tên. Anh đặt chúng trên cùng một trang, cách nhau hai dòng trắng.
Chín giờ mười, điện thoại của anh rung. Vy gọi từ bệnh viện huyện.
Cô nói nhanh, khẽ, như người đang đứng ở hành lang và không muốn ai nghe. Huy tỉnh lại lúc tám giờ năm mươi, uống được nửa cốc nước. Chị Hằng ngồi với anh. Bác sĩ không cho ai hỏi gì thêm, nhưng chị Hằng đã nghe em mình nói, và vừa ra hành lang kể lại cho Vy, nguyên văn, vì chị biết Vy đang ghi. Vy đọc cho Khải nghe từ sổ.
"Anh ấy hỏi chị Hằng: cái cửa ấy người ta khóa ở phía ngoài, thế là để cho cái gì ở trong không ra được, phải không chị." Vy dừng lại. "Rồi anh ấy nói: em sợ là có cái gì ở trong ấy. Em không biết. Em chỉ thấy thế. Lúc em kéo cái then, em thấy như có cái gì ở bên kia đang chờ em kéo xong."
Khải không nói gì. An nhìn anh, rồi nhìn chiếc điện thoại trên bàn.
"Chị Hằng hỏi anh ấy có nghe thấy gì ở bên kia cửa không," Vy nói tiếp. "Anh ấy bảo không. Không nghe gì. Không thấy gì. Chỉ là cảm thấy. Anh ấy nói đi nói lại: em chỉ thấy thế thôi, em không biết."
"Cô ghi đúng như thế," Khải nói.
"Tôi ghi đúng như thế," Vy đáp. "Cả câu 'em chỉ thấy thế thôi'. Tôi gạch chân nó."
Cúp máy, Khải ngồi im một lúc. Bên ngoài container, máy phát điện vẫn chạy đều. Phía cuối ngõ, ngôi nhà số 17 đứng tối om dưới ánh đèn halogen, mặt tiền trắng bệch, hai ô cửa sổ vòm như hai con mắt nhắm. Phía sau nó, dưới mặt đất, trong một căn buồng gạch không ai còn ở, có một cánh cửa sắt mà người ta đã thiết kế để người ở bên trong tự mở được, rồi đã sửa lại để chỉ người ở bên ngoài mới mở được.
Anh mở sổ, viết dòng cuối cùng của ngày thứ hai. Anh viết nó bằng bút bi, không phải bút chì, vì anh muốn nó không xóa được.
"Lời Huy, qua chị Hằng, qua Vy, 20:50 ngày 2: 'Cái cửa ấy khóa ở phía ngoài là để cho cái gì ở trong không ra được.' Đây là cảm nhận của người bị nạn, người ấy tự nói là chỉ cảm thấy. Không có dữ liệu nào hiện có cho thấy có gì ở phía K2. Cũng không có dữ liệu nào cho thấy không có gì."
Anh đọc lại dòng ấy hai lần. Rồi anh thêm một chữ vào cuối, một chữ mà anh hiếm khi viết trong sổ khảo sát, vì nó không phải là một con số, không phải là một kết luận, và không phải là một giả thuyết. Nó chỉ là sự thật về việc anh đang ở đâu.
"Chưa."