Âm Dương Tà Thần

Chương 006 — Tấm bản đồ cũ

Chương 006 — Tấm bản đồ cũ
Đến chín giờ ba mươi sáng, ông Lâm mới mang được hồ sơ căn nhà ra hiện trường. Đại úy Sáng đã đòi nó từ hai giờ sáng, rồi đòi lại lúc sáu giờ, và lần thứ ba thì đòi qua điện thoại của Trung úy Quang. Ông Lâm đến bằng taxi, ôm hai thùng giấy và dẫn theo một người phụ nữ chừng bốn mươi, đeo kính, khoác áo len mỏng dù trời đã bắt đầu oi. Ông giới thiệu đó là chị Thoa, người giữ hồ sơ của ban quản lý dự án. Chị Thoa chào mọi người bằng một cái gật đầu ngắn, rồi đi thẳng vào container, như một người có việc cần làm và không muốn nhìn về phía ngôi nhà.
An đi theo. Trần Duy Khải đi sau An. Anh đến từ bảy giờ sáng như đã hẹn, và hai tiếng qua đã đi vòng quanh nhà số 17 với một máy đo khoảng cách, một cuộn thước thép và chiếc máy tính xách tay kẹp dưới nách. Anh cao, gầy, ít nói, đi đứng như một người luôn đang đếm bước chân của mình. Sáng nay An mới nói với anh được đúng ba câu, và câu thứ ba của anh là: "Em có bản vẽ gốc không, hay chỉ có bản photo?"
Trong container, chị Thoa mở thùng thứ nhất, lấy ra từng tập một, đặt lên bàn theo thứ tự và đọc to số hiệu của từng tập cho cán bộ trẻ của Quang ghi vào biên bản. Bản vẽ hiện trạng phục vụ tháo dỡ. Bản vẽ cải tạo cũ mà chủ nhà trước nộp khi xin sửa nhà. Sơ đồ điện. Hồ sơ địa chính. Biên bản bàn giao mặt bằng. Chị có một tờ danh mục in sẵn, và mỗi lần đặt một tập xuống lại đánh dấu vào tờ ấy bằng bút bi đỏ.
Khải cầm bản vẽ cải tạo lên ngay. An thấy anh lật nhanh qua mấy trang đầu rồi dừng lâu ở mặt bằng tầng một.
Tập thứ sáu là một bìa nhựa trong, bên trong có bản vẽ hiện trạng do bên khảo sát của Hiền lập. Chị Thoa rút các tờ ra để đếm. Đến tờ thứ tám, chị khựng lại.
Khác với những tờ trước, tờ giấy này không phẳng. Nó được gấp nhiều lớp, kẹp giữa hai tờ bản vẽ in máy, dày hơn chúng, và màu của nó cũng khác hẳn. Chị Thoa cầm nó lên bằng hai ngón tay, nhìn mặt ngoài, rồi nhìn tờ danh mục của mình.
"Cái này không có trong danh mục," chị nói.
Ông Lâm nhông người lên nhìn. "Giấy gì đấy?"
"Em không biết. Em không nhập cái này." Chị Thoa lật ngược lại tờ danh mục, kiểm lại từng dòng của tập thứ sáu. "Tập này mười hai tờ, em đếm lúc nhận từ bên khảo sát thứ hai tuần trước. Đây là tờ thứ mười ba."
"Thì bên khảo sát kẹp nhầm."
"Bên khảo sát không dùng loại giấy này," Khải nói, không ngẩng đầu khỏi bản vẽ cải tạo.
An đặt tay lên cổ tay chị Thoa trước khi chị kịp mở tờ giấy ra. "Chị để em chụp nó đúng như thế này trước được không ạ? Trước khi mở."
Chị Thoa nhìn cô, rồi nhìn Quang. Quang gật đầu. Chị đặt tờ giấy xuống mặt bàn trống, đúng nguyên tình trạng gấp, rồi rút tay về.
An không vội. Cô biết mình đang làm gì, dù không biết vì sao mình lại cần làm đến mức ấy. Cô chỉ biết những thứ xuất hiện ở nơi không nên có chúng thường là những thứ về sau người ta tranh cãi nhiều nhất, và một bức ảnh chụp đúng lúc còn đáng giá hơn mười lời khai chắc chắn về sau.
Cô nhìn nó như nhìn một nhân chứng chưa nói gì. Tờ giấy gấp lại chừng bằng một bàn tay xòe. Loại giấy dày, xơ dài, sờ vào có lẽ sẽ thấy hơi nhám. Màu vàng sẫm, sẫm hơn ở các mép gấp. Góc dưới bên trái của mặt ngoài có một vết loang nâu hình bán nguyệt, giống vết nước đã khô từ lâu. Không có chữ nào ở mặt ngoài.
Cô nhờ Khải. Anh gập máy tính lại, không hỏi gì, đi ra xe lấy chân máy ba chân và một tấm thẻ xám chuẩn dùng để cân màu khi chụp hiện trường. Anh dựng chân máy ngay trên bàn, gắn điện thoại của An lên, chỉnh cho ống kính song song với mặt bàn, đo khoảng cách: sáu mươi phân. Anh đặt thước thép dọc mép dưới của tờ giấy, tấm thẻ xám ở góc trên bên phải. An tắt đèn trần container vì nó nhấp nháy, nhờ cán bộ trẻ mở hết cửa để ánh sáng ngoài trời hắt vào đều, và chụp.
Ảnh đầu tiên lúc 09:51, tờ giấy còn gấp, mặt ngoài. Ảnh thứ hai, mặt sau, sau khi chị Thoa đã đeo đôi găng tay cao su của đội cứu hộ và lật nó lại. Rồi chị mở từng nếp gấp, chậm, theo thứ tự An đọc. Sau mỗi nếp, An chụp một tấm. Tất cả có bốn lần gấp, chia tờ giấy thành mười sáu ô. Khi mở hẳn, nó rộng chừng bốn mươi nhân năm mươi lăm phân, theo thước của Khải.
Không ai nói gì trong một lúc.
Nó là một tấm bản đồ, hoặc một thứ gì đó gần với bản đồ. Những nét vẽ tay bằng mực đen ngả nâu, dày mỏng không đều, có chỗ đậm như người vẽ đã dừng bút lại lâu, có chỗ nhạt đến mức phải nghiêng đầu mới thấy. Một dải hai nét song song uốn lượn chạy chéo từ góc trên bên trái xuống góc dưới bên phải, có lẽ là một con kênh hoặc một dòng sông. Hai bên dải ấy là những cụm chấm nhỏ, những đường kẻ ngắn nối với nhau thành lưới, có thể là nhà và đường, hoặc có thể không phải. Rải rác trên mặt giấy có vài chữ viết tay. Một số là quốc ngữ, nét chữ cũ, nghiêng và có móc. Một số khác An không đọc được, những ký tự vuông vức theo lối cũ mà cô đoán là chữ Hán hoặc chữ Nôm, và cô ghi lại đúng như thế: "ký tự lối cũ, chưa đọc được". Không có mũi tên chỉ hướng bắc. Không có thước tỷ lệ. Không có ngày tháng, chữ ký hay dấu.
Gần giữa tờ giấy, sát mép phải của dải nét song song, có hai chữ quốc ngữ viết nhỏ: Hạ Thủy.
Ngay cạnh hai chữ ấy là một ô vuông nhỏ vẽ tay, bên trong có một chấm tròn đậm.
An không kết luận gì. Cô chỉ viết vào sổ: "Gần chữ 'Hạ Thủy' có ô vuông chứa chấm tròn." Không ai cần cô viết thêm để biết cô đang nghĩ gì.
Cô chụp thêm mười hai tấm nữa: toàn cảnh với thước và thẻ xám, từng góc, từng cụm chữ, cận cảnh ô vuông, cận cảnh vết loang ở góc, và cận cảnh các nếp gấp nơi thớ giấy đã mềm và hơi xơ ra. Khải chụp lại toàn bộ bằng máy ảnh riêng của anh, với cùng chân máy và cùng khoảng cách, vì, theo anh nói, một bộ ảnh thì không đối chứng được với chính nó. Ảnh cuối cùng lúc 10:06.
Trước khi để Khải nói gì về nội dung tờ giấy, An làm thêm hai việc mà cô biết sẽ khiến ông Lâm sốt ruột. Cô mở thư mục ảnh trên điện thoại, đọc to số thứ tự tệp đầu và tệp cuối của loạt vừa chụp để cán bộ trẻ ghi vào biên bản. Rồi cô tải nguyên bản cả loạt lên kho lưu trữ trực tuyến và gửi một bản cho Quang qua thư điện tử, để thời điểm những tấm ảnh này tồn tại không chỉ nằm trong máy cô. Khải làm điều tương tự với thẻ nhớ máy ảnh của anh. Sau đó cô ghi tình trạng tờ giấy như ghi tình trạng một nhân chứng vừa được đưa vào phòng: góc loang hơi ẩm khi chị Thoa lật, phần còn lại khô, không mùi lạ, không vết rách mới, các nếp gấp mềm nhưng chưa đứt. Đã gần hai mươi phút kể từ khi chị Thoa mở tập số sáu. Ngoài cửa container, Sáng vẫn đứng chờ bản vẽ cải tạo, không giục, nhưng cũng không bỏ đi.
Rồi Khải cúi xuống sát tờ giấy, không chạm vào, và nhìn rất lâu. Anh mở lại máy tính, gọi lên bản đồ địa chính của thị trấn, đặt màn hình cạnh tờ giấy.
"Không khớp được," anh nói. "Không có tỷ lệ, không có hướng. Nếu giả định dải này là con kênh và xoay cho nó theo hướng kênh thật, thì mấy cụm chấm này không nằm đúng chỗ phố nào. Người vẽ không vẽ để đi đường."
"Vậy vẽ để làm gì?" ông Lâm hỏi, giọng có chút sốt ruột.
"Dữ liệu hiện tại không đủ để nói." Khải chỉ đầu bút chì vào khoảng không phía trên ô vuông nhỏ, cách mặt giấy một đốt ngón tay. "Nhưng có một điều. Nếu ô vuông này là nhà 17 và dải này là con kênh, thì người vẽ không đặt nhà lên thửa đất. Anh ta đặt nó lệch về phía kênh, đè lên cái nét này."
An nhìn theo. Từ mép dải song song có một nét mảnh tách ra, chạy ngắn vào đất liền, và ô vuông nhỏ nằm ngay trên nét ấy, như một cái nắp đậy lên miệng ống.
"Theo địa chính, nhà 17 cách bờ kênh một lối đi nhỏ," Khải nói tiếp. "Ở đây nó nằm trên một tuyến nào đó nối với kênh. Tuyến nước, tuyến cống, hay tuyến gì khác, anh không biết."
Rồi anh chỉ sang một chỗ khác. Từ ô vuông, một nét rất mờ, mờ đến mức An phải nghiêng đầu sát mặt bàn theo hướng ánh sáng mới thấy, chạy ra xa khỏi cụm chấm dày đặc nhất, vượt qua một khoảng trống, rồi tắt ở gần mép trên bên phải của tờ giấy. Cuối nét ấy không có chữ, không có ký hiệu, không có gì cả.
"Nếu cụm dày nhất là trung tâm thị trấn, thì nét này đi ra ngoài thị trấn," Khải nói. "Nếu không phải thì anh không biết nó đi đâu."
"Nét đó mới vẽ hay cũ?" An hỏi.
Khải lắc đầu. "Không nói được bằng mắt. Nó mờ hơn những nét khác. Có thể là mực pha loãng, có thể bị phai, có thể là vết hằn từ một tờ khác đè lên. Phải có người hiểu về giấy và mực xem."
An viết vào sổ, từng chữ: "Nét mờ từ ô vuông hướng ra mép trên bên phải. Kết thúc không có ký hiệu. Chưa biết tuổi. Chưa biết ý nghĩa."
Ông Lâm đứng thẳng lên. Ông bảo đây là giấy vụn, chắc ai đó trong đội khảo sát nhặt được trong nhà rồi kẹp vào, không liên quan gì đến việc tìm người. Giờ phải tập trung vào bản vẽ thật. Ông nói đúng, và An biết ông nói đúng. Sáng đang đứng ngoài cửa container chờ bản vẽ cải tạo, mỗi phút của anh là một phút của Huy.
Nhưng An cũng biết một điều khác. Nếu bây giờ cô để tờ giấy này quay lại thùng hồ sơ, hoặc tệ hơn là vào sọt rác của công trình, thì sau này sẽ không ai biết sáng nay nó trông như thế nào, ai đã cầm nó, và nó đã ra khỏi thùng giấy lúc mấy giờ.
"Cháu xin giữ nó," cô nói với ông Lâm. "Không phải để đăng báo. Để giữ nguyên. Nếu sau này có ai cần, nó vẫn còn đúng như bây giờ."
Ông Lâm nhìn Quang. Quang nhìn tờ giấy, rồi nhìn An, rồi nhìn đồng hồ. Anh bảo tờ giấy không phải vật chứng của vụ mất tích, ít nhất là lúc này, nên công an không tạm giữ. Nhưng vì nó được tìm thấy trong bộ hồ sơ bàn giao cho cứu hộ, anh muốn có biên bản. Nếu chủ đầu tư đồng ý giao, và người nhận chịu trách nhiệm giữ, thì anh ký làm chứng.
Ông Lâm nhún vai. "Giấy vụn thì cô cứ giữ."
Họ bắt tay làm ngay để kịp hoàn tất việc niêm phong và giao nhận lúc mười giờ mười tám. Chị Thoa gấp tờ giấy lại đúng theo các nếp cũ, vẫn đeo găng tay. An chụp lại nó ở trạng thái đã gấp. Khải tìm trong xe được một túi nhựa dày có khóa kéo, loại anh dùng để đựng mẫu đất. Tờ giấy được đưa vào túi, kéo khóa. An dán một mảnh băng dính giấy ngang miệng khóa. Quang, ông Lâm và An cùng ký tràn qua mép băng dính, để nếu ai mở ra thì chữ ký sẽ bị đứt.
Cán bộ trẻ viết biên bản giao nhận tay, một trang. Bên giao là ông Lâm, đại diện chủ đầu tư. Bên nhận giữ là Lê Minh An. Người làm chứng là Trung úy Phạm Quang. Mô tả được ghi ngắn gọn: một tờ giấy vẽ tay, kích thước khoảng 40×55cm, gấp bốn lần, không thuộc danh mục hồ sơ, tìm thấy trong tập số 6, niêm trong túi nhựa có chữ ký ba bên. Thời điểm: 10:18. Danh sách những người đã chạm vào tờ giấy từ lúc mở thùng gồm: Thoa, có đeo găng từ lúc mở gấp. Ông Lâm nói mình chưa chạm. An và Khải không chạm trực tiếp. Trước lúc mở thùng thì không ai biết.
An ghi thêm vào sổ của mình một mục riêng: "Nhật ký tiếp cận." Dòng đầu tiên ghi ngày, giờ, tên người cầm, lý do cầm. Cô không biết mình sẽ cần đến nó bao lâu.
Khi An bước ra khỏi container với chiếc túi nhựa trong tay, nắng đã lên, hắt chéo qua nóc tôn và làm hơi nước bốc lên từ mặt ngõ. Sáng đã trải bản vẽ cải tạo lên nắp máy phát điện, ngón tay dò theo bức tường bếp, nói gì đó với một chiến sĩ. Khải đã đứng cạnh anh, chỉ vào một chỗ trên bản vẽ và lắc đầu. Cuộc tìm kiếm Huy vẫn tiếp tục, như nó phải thế.
An cất túi nhựa vào ngăn trong của ba lô, ngăn có khóa kéo riêng, áp sát lưng. Cô không tin tờ giấy ấy có phép màu gì. Cô không tin nó liên quan đến Huy. Nhưng cô đứng giữa sân một lúc, để một câu hỏi lớn dần lên trong đầu mà không cố gạt nó đi.
Tờ giấy không có hướng bắc, không có tỷ lệ, không dùng được để đi từ bất cứ đâu đến bất cứ đâu. Người vẽ nó không muốn ai tìm đường bằng nó. Vậy mà trong cả một mặt giấy đầy những chấm không tên, người ấy đã viết tên đúng một con ngõ. Người ấy đã vẽ đúng một ngôi nhà, và đặt nó không phải chỗ nó đứng mà chỗ nước chảy. Từ ngôi nhà ấy, một nét mờ chạy ra phía không có tên.

Truyện Cùng Thể Loại

Các Đại Năng Đã Để Lại Thần Thức


Lưu ý: Vui lòng tải app để có thể lưu lại thần thức trên truyện này
Tải app để đọc truyện sớm nhất