Chương 21:
Nguồn gốc sâu xa của thần tướng
Chú Hai mặt trắng bệnh, đưa mắt nhìn xung quanh, rồi đột nhiên nhảy dựng lên kêu to: “Quỷ núi!”
Chi Nghe chú kêu vậy, tôi giật nẩy mình, tiếp đó nhớ đến lời của Nhị Não Đại lúc trước, trong núi sâu có quỷ núi tác quái, vừa có thể tạo ra ảo giác, tạo ra nhiều ngả đường khiến cho người ta dù đi thế nào cũng không đúng đường, lại vừa tạo ra mây mù kín trời khiến người ta không nhìn rõ đường, cuối cùng đi lạc đến động của quỷ núi và bị nó ăn thịt không còn để lại mảnh xương.
Trước đây tôi luôn không tin vào những lời đó, nhưng kể từ sau khi “Nghĩa Sơn Công Lục” làm thay đổi quan niệm trong lòng tôi thì những thứ đó bỗng trở nên có phần đáng tin.
Có thể quỷ núi không thần kỳ đến như vậy, tuy nhiên, trong núi sâu, những thứ không biết có rất nhiều, con người so với điều đó thực sự chẳng đáng là gì.
Nhưng bố tôi thì nói: “Không có quỷ núi, chỉ là các ngả đường quá nhiều thôi.”
Chú Hai kêu lên: “Ngả đường là do quỷ núi tạo ra!”
Bố tôi nói: “Tôi không tin!”
Chú Hai lo lắng, nói: “Anh Cả, lúc cần tin thì anh không tin, khi không cần tin thì anh lại tin, sớm muộn gì cũng sẽ thua thôi!”
Bố tôi nói: “Bây giờ đang giữa ban ngày, ba người đàn ông chúng ta làm sao mà dễ dàng bị ảo giác như thế?”
Chú Hai ngây người, gãi đầu, đáp: “Đúng thế, giữa ban ngày, chúng ta đều là huyết khí phương cương, nếu nói là một mình em bị ảo giác còn được, đằng này anh Cả trường khí mạnh, Nguyên Phương tính cách cũng cứng cỏi, sao lại cùng…”
Tôi thấy lung lay, nên nói: “Vừa nãy Hà Cửu Thúc còn gọi với theo bảo chúng ta đừng lên cơ. Bây giờ xem ra Kim Kê Lãnh đúng như lời Hà Cửu Thúc nói, dãy núi này kéo dài cả trăm dặm, mênh mông, bát ngát lại quanh co, lắm lối rẽ, rất dễ lạc vào trong!”
Chú Hai đập vào ngực, nói: “Chỉ cần không phải là do quỷ núi tác quái thì dễ rồi.”
Loại trừ nghi ngờ về quỷ núi, chúng tôi tiếp tục tìm đường, và rồi thời gian nhanh chóng đến 5 giờ chiều. Từ sáng đến lúc này, ba chúng tôi cơm trưa không được ăn, vừa đói vừa khát vừa mệt, thế mà vẫn chưa tìm được đường xuống núi, nên ai cũng cảm thấy rất lo lắng.
Nhưng dù thế nào thì chúng tôi cũng đều không muốn ở lại đêm trong núi, vì ban đêm nhiệt độ trong núi rất thấp, hơn nữa thú dữ cũng dễ xuất hiện nên cả ba đều cố lấy lại tinh thần và tiếp tục tìm đường trong một tiếng đồng hồ nữa, hy vọng có thể ra khỏi núi. Tuy nhiên, không hiểu sao cứ đi một hồi rồi loanh quanh thế nào lại trở về chỗ có hòn đá lớn.
Chúng tôi vừa mệt vừa tức. Chú Hai không bước đi được nữa, chú thở hổn hển và nói: “Hay là cứ nghỉ một lát đi, biết đâu Nhị Não Đại sẽ tìm thấy chúng ta.”
Bố tôi nhìn lên bầu trời, màu hoàng hôn đã rất rõ, không lâu sau sẽ hoàn toàn tối mịt, trời tối mà trong núi lại càng dễ lạc đường, vì thế bố tôi nói: “Vậy thì nghỉ một chút.”
Chú Hai thở ra một hơi, nói: “Em thấy chuyện Lão Khuất Đầu bị ma nhập mười phần thì tám, chín phần là do Lệ Thiên Thu giở trò!” Tôi hỏi: “Sao chú lại nói như vậy?”
Chú Hai nói: “Chuyện đó mà cũng phải hỏi à? Cháu nhìn điệu bộ Lệ Thiên Thu mà xem, người chẳng ra người, ma chẳng ra ma, là cái hạng đàn bà chẳng ai muốn lấy, chắc chắc ông ta vẫn độc thân, do đó tâm lý khẳng định bị biến thái! Hơn nữa, lúc mà chúng ta cứu Lão Khuất Đầu, ông ta và cái tay trưởng thôn mặt dài như quả dưa ấy kẻ tung người hứng, tìm đủ mọi cách ngăn cản chúng ta, điều đó nói lên cái gì? Tất nhiên là bọn họ muốn giở trò rồi!”
Tôi nhớ lại, nghĩ đến cảnh tượng mà Lệ Thiên Thu xuất hiện ở mộ ông tôi, bèn trầm ngâm nói: “Chuyện của Lão Khuất Đầu chưa hẳn là do Lệ Thiên Thu giở trò, nhưng cháu cảm thấy hình như giữa ông ta và nhà họ Trần chúng ta có một thâm thù cũ, cho nên hễ gặp chúng ta là ông ta cố tình gây khó dễ.”
Bố tôi gật đầu nói: “Lệ Thiên Thu đúng là rất kỳ quái.”
Chú Hai bĩu môi, nói: “Có gì mà kỳ quái, theo em thấy rất đơn giản, chúng ta là người của Ma Y Trần gia, là anh cả của giới thầy bói, ông ta là một thầy bói không sánh được với chúng ta thì ghen ghét, đố kỵ! Người cùng nghề là oan gia của nhau mà!”
“Như thế có đơn giản quá không? Chỉ vì ông ta không sánh được vói chúng ta, sau đó thành thù hận?” Tôi đáp vẻ không tin.
Chú Hai gãi đầu, rồi đột nhiên nói: “Cũng có thể ông ta thèm muốn cuốn “Nghĩa Sơn Công Lục”, muốn cướp từ tay chúng ta, sau đó làm Thần tướng Ma Y!”
Tôi ngây người, làm Thần tướng Ma Y?
Thần Tướng Ma Y rút cuộc là gì, Lệ Thiên Thu ở mức nào, đến cả tôi là truyền nhân của Ma Y Trần gia cũng còn không biết mà Lệ Thiên Thu lại biết chăng?
“Rút cuộc thế nào là Thần tướng Ma Y?” Tôi hỏi chú Hai, nhưng mắt thì nhìn chăm chú vào bố tôi, đây là lần thứ ba tôi hỏi câu hỏi này. Chú Hai cũng nhìn bố tôi một cái, rồi đáp: “Bố cháu không cho chú nói.”
Bố tôi thì nói: “Nếu Nguyên Phương đã bước vào nghề thầy bói rồi thì chú nói đi.”
Chú Hai vui mừng nói: “Chú đã phải nén giữ lâu quá rồi!”
Nói rồi, chú ghé mông ngồi xuống một hòn đá, chẳng cần biết nó có bẩn hay không, có lạnh hay không và bắt đầu múa mép: “Muốn nói về Thần tướng Ma Y thì dài lắm, chúng ta nên bắt đầu nói từ ông tổ Trần Đoàn, có biết ông tổ Trần Đoàn không? Người được Hoàng đế Hậu Chu rất sủng ái, người đã đưa ra lời dự đoán nước Triệu sẽ giành được thiên hạ, hơn nữa điều tuyệt vời nhất là ông ấy mà ngủ thì giấc ngủ có thể kéo dài cả năm trăm năm.”
Tất nhiên là tôi biết về Trần Đoàn, người được Đạo giáo phong là ông tổ của thần tiên, người đời gọi là Hy Di tiên sinh, là thầy bói nổi tiếng nhất trong lịch sử.
Nghe nói, thời kỳ loạn chiến Ngũ Đại, Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận và em trai Triệu Khuông Nghĩa (cũng tức là Tống Thái Tông sau này) sau khi ra đời không lâu được mẹ đặt vào gánh đi qua cầu, đúng lúc đó ông tổ Trần Đoàn cũng cưỡi lừa đi ngang qua, sau khi nhìn thấy hai đứa con của bà mẹ họ Triệu kia thì vô cùng mừng rỡ, suýt nữa thì ngã khỏi lưng lừa. Ông tổ Trần Đoàn nói: “Tuyệt quá, một cái gánh gánh hai hoàng đế, từ nay về sau, thiên hạ thái bình rồi.” Đó là câu chuyện ông tổ Trần Đoàn dự báo việc Đại Tống giành được thiên hạ.
Sau này, sau khi Triệu Khuông Dận thống nhất thiên hạ, kết thúc cục diện Ngũ đại Thập quốc loạn chiến, đi qua Hoa Sơn đã dành thời gian lên núi thăm ông tổ Trần Đoàn. Ông tổ Trần Đoàn đã chơi cờ cùng với Triệu Khuông Dận và lấy Hoa Sơn ra đánh cược, nếu ông tổ Trần Đoàn thắng thì Hoa Sơn không phải nộp thuế cho Đại Tống nữa. Kết quả, quả nhiên ông tổ Trần Đoàn đã thắng, Triệu Khuông Dận cũng thực hiện lời hứa của mình, lập đơn thư thiết khế (bằng chứng để người sở hữu được hưởng ân sủng hoặc miễn tội của vua hoặc hoàng đế), tặng Hoa Sơn cho ông tổ Trần Đoàn, kể từ đó không thu thuế đối với khu vực Hoa Sơn nữa.
Tôi đọc thuộc lịch sử, cũng thích dã sử của các vị quan nhỏ và nhớ rất rõ truyền thuyết này, còn ghi chép về Trần Đoàn thì trong cuốn “Chu Thư Thập” bộ Lịch sử Ngũ Đại Cũ viết: “Trần Đoàn hứng thú với cuộc sống thôn dã, ẩn cư ở Hoa Sơn, sau đó rất nổi tiếng. Khi Thế Tông đang tại vị, khắp nơi không phục nên định tìm cách trói buộc nhân tài, và cho mời Trần Đoàn đến, hứa hẹn sẽ phong cho chức Tả Thập Di. Nhưng Trần Đoàn không chịu mà kiên quyết đòi về núi, Thế Tông đành phải chấp nhận.”
Có thể thấy, khi Trần Đoàn ẩn cư rất được Chu Thế Tông coi trọng, nhưng Trần Đoàn kiên quyết không chịu xuất thế, sau đó viết một loạt tác phẩm nổi tiếng như “Vô cự đồ”, “Thái cực đồ”, “Tiên thiên đồ”… và đưa việc nghiên cứu “Chu Dị” lên một tầm cao mà cổ nhân, hậu thế chưa ai đạt đến.
Nhưng tôi nhớ, lịch sử nói rằng Trần Đoàn là người Lộc Ấp, Hà Nam, sau đó sống ở lưu vực sông và trở thành người Lạc, lúc ẩn dật ở Hoa Hạ thì là người Hoa, chứ chưa từng nghe nói là người ở chỗ chúng tôi.
Chú Hai nói: “Người ta luôn đưa ra những đoán định về gốc tích của ông tổ Trần Đoàn, rồi tiến hành khảo chứng, cuối cùng đưa ra mấy chục kết luận. Thực ra, gốc tích của ông là ở bên bờ sông Dĩnh Thủy, là người sinh ra và lớn lên ở chỗ chúng ta.”
“Ồ”, tôi biết, hễ là những danh nhân lịch sử, từ trước đến nay luôn có tình trạng các địa phương tranh giành, ví dụ như Gia Cát Lượng chẳng hạn, Nam Dương, Hà Nam và Tương Dương, Hồ Bắc cứ tranh giành hơn một nghìn năm, đến bây giờ vẫn không ai chịu ai.
Chú Hai dừng một chút rồi nói: “Hồi ông tổ Trần Đoàn còn trẻ là đúng vào khi xảy ra loạn thế Ngũ đại thập quốc, là thời kỳ binh lửa chiến tranh, nên ông không muốn ra làm quan mà đi tìm đến những danh sư để học về đạo pháp. Ông lần lượt học được những khí công thâm hậu như thuật Tịch cốc, thuật Tỏa ty, Huyền vũ tức… Cơ sở nội công của phái Ma Y chúng ta chính là được phát triển từ ông tổ Trần Đoàn.”
“Khí công? Cụ giỏi thế cơ à?” Tôi hỏi với vẻ không thể tin được.
Hai mắt chú Hai trợn lên, đáp: “Còn phải nói! Bố cháu có giỏi không? Khí công mà bố cháu theo là Lục tướng toàn công, lấy cơ sở là khí công của ông tổ Trần Đoàn đó!”
Tôi đưa mắt nhìn bố tôi một cái, bố tôi gật đầu, tôi bèn hỏi: “Thế nào là Lục tướng toàn công?”
Bố tôi trầm ngâm một lúc, sau đó nói: “Lục tướng toàn công lấy cơ sở là khí công do ông tổ Trần Đoàn truyền lại, lấy lục cảm “tai, mắt, miệng, mũi, thân, tâm” làm gốc, thoát thai từ võ công độc môn giang hồ của tướng thuật gia tộc Ma Y trong đó có Lục tướng giới gồm Thai tức, Chỉ huyền, Quan không, Tâm tướng, Vô cực, Hoàn đan. Nhĩ pháp thì có Thiên văn, Mục pháp thì có Dạ nhãn, Khẩu pháp có Long ngâm, Ty pháp có Huyền vũ tức, Tâm pháp có Thanh tịnh giới. Thân pháp nhiều nhất, trong đó kỹ thuật điểm huyệt gồm Hành vân phất, Thủ thượng gongfu có Thái hư chưởng, Tha sơn thủ, Thối thượng gongfu có Tư vân liệt, Khinh thân gongfu có Tung phù dao.
Tôi nghe bố tôi nói mà cứ há mồm trợn mắt, không biết phải nói câu gì. Chú Hai xen vào: “Anh Cả, không biết anh đã luyện đến cảnh giới nào rồi? Nhưng em đoán anh đã luyện được Dạ nhãn trong Mục pháp rồi!”
Bố tôi ngây người, không nói gì.
Tôi tò mò hỏi: “Thế nào là Dạ nhãn?”
Chú Hai nói: “Dạ nhãn xếp hàng thứ ba trong Ngũ đại mục pháp gồm Linh nhãn, Tuệ nhãn, Dạ nhãn, Pháp nhãn, Thiên nhãn, cực kỳ khó luyện. Sau khi luyện xong thì có thể nhìn thấy mọi vật ban đêm giống như ban ngày.”
Bất giác tôi trố mắt thực sự, cách nói này đã làm lung lay thế giới quan của tôi một cách triệt để.
Chú Hai nhìn thấy điệu bộ của tôi, đắc ý “hừ” một tiếng rồi nói tiếp: “Thấy lợi hại chưa? Thủ pháp điểm huyệt mà ban ngày bố cháu làm thuận khí cho Lão Khuất Đầu đó chính là Hành vân phất! Quay lại câu chuyện chính, ông tổ Trần Đoàn sau khi học thành đạo pháp đã đi khắp thiên hạ. Bỗng có một ngày, tình cờ ông gặp một đạo sĩ mặc Ma Y ở Hoa Sơn, vị đạo sĩ đó nhìn thấy ông tổ Trần Đoàn thì lập tức nói ngay mức độ thâm hậu nội công của ông tổ Trần Đoàn, thậm chí là cả đặc điểm tính cách của ông tổ, cũng như những điều ông đã trải qua mà không sai chút nào. Ông tổ Trần Đoàn thấy thế vô cùng sửng sốt, biết là mình đã gặp được kỳ nhân, nên lập tức bái xin được theo học. Vị đạo sĩ đó không phải là ai khác mà chính là Ma Y Đạo Nhân sáng lập ra Ma Y tướng pháp! Ông đã nhận ông tổ Trần Đoàn làm đệ tử, rồi truyền lại cho ông tổ Trần Đoàn tất cả bản lĩnh của mình trong một ngôi nhà đá bí hiểm ở Hoa Sơn. Sau đó, Ma Y Đạo Nhân lặng lẽ rời đi, không biết về phương nào. Sau khi học thành, ông tổ Trần Đoàn dựa vào sự hiểu biết của mình, bổ sung thêm vào Ma y tướng pháp mà Ma Y Đạo Nhân sáng lập, và trở thành một đại tướng sư vượt qua sự tồn tại của Ma Y Đạo Nhân!”
Tất cả những điều này tôi cũng đã đọc thấy trong thiên Mở đầu của cuốn “Nghĩa Sơn Công Lục”, tuy nhiên trong đó viết khá đơn giản chứ không sinh động và hình tượng bằng những lời từ miệng chú Hai, khiến tôi nghe rất chăm chú và bất giác hỏi: “Sau đó thì sao?”