Chương 3:
Huấn truyền của tổ tiên
Không tìm được manh mối nào từ bố tôi, tôi đành nghĩ cách để hỏi dò bà nội, nhưng sau khi ông nội tôi mất không lâu, bà nội tôi đã trở về quê ở Dực Bắc, nghe bố tôi nói bà sẽ không trở lại trong một thời gian ngắn. Chẳng còn cách nào khác, tôi đành phải kìm lòng mình lại.
Mẹ tôi buôn bán ở nhà, ông nội vừa mất, tôi chưa có tâm trạng nào đi tìm việc làm nên ở nhà phụ giúp bố mẹ.
Loáng một cái đã hơn một tháng trôi qua, nỗi đau buồn về cái chết của ông trong lòng tôi cũng đã nguôi ngoai ít nhiều, tuy nhiên những sự việc bí hiểm đó vẫn cứ luẩn quẩn trong đầu tôi, khiến tôi luôn cảm thấy rằng nếu không tìm ra chân tướng sự thật thì sẽ ăn ngủ không yên.
Một hôm bố mẹ tôi có việc phải đi vắng, em gái cũng đã quay lại trường đi học, chỉ có một mình tôi ở nhà. Chờ sau khi mọi người đi rồi, tôi nằm lên giường một lúc.
Hôm đó thời tiết rất oi bức khó chịu, tôi cũng cảm thấy trong lòng rất trống trải, vô vị, thế rồi tôi chợt nhớ tới di vật của ông nội. Tôi nghĩ: nếu ông nội tôi để lại di vật, thì chắc chắn nó sẽ ở chỗ bố tôi, và chắc chắn bố tôi đã cất giấu nó, lúc này chẳng phải là lúc thuận tiện để tôi đi tìm chúng sao?
Nghĩ đến đây, tôi lập tức lục tìm các tủ hòm ở mọi xó xỉnh trong nhà.
Nhưng tôi đã tìm khắp một lượt mà chẳng thấy gì.
Tôi thấy thất vọng, lẽ nào ông tôi không để lại cho tôi thứ gì?
Tôi ngồi ở cửa nhà chính suy nghĩ.
Khi mắt tôi nhìn lên những viên gạch lát trên mặt đất ở phía bên phải sân nhà, trong đầu tôi chợt nghĩ: không lẽ là giấu dưới những viên gạch đó?
Cấu trúc sân nhà tôi và sân nhà ông nội giống nhau, hơn nữa cách đây rất lâu, có lần tôi đã nhìn thấy ông mọi từ dưới những hàng gạch lên mấy bình rượu ngon. Chọn giấu đồ vật dưới đất có lẽ là thói quen giấu đồ của gia đình chúng tôi chăng?
Nghĩ đến đây, tôi lập tức lật gạch lên.
Hì hục một hồi, quả nhiên tôi đã tìm ra một vài dấu vết dưới mấy hòn gạch ở hàng thứ ba, khi gõ lên bề mặt của những viên gạch đó thì nghe có tiếng “cồm cộp”, chứng tỏ phía dưới nó trống rỗng.
Sau khi gạt lớp đất ở trên ra, ở đó lộ ra một tấm xi măng, lật tấm xi măng ra thì thấy phía dưới là một cái cóng, mở cóng ra, tôi vô cùng vui mừng và kinh ngạc, quả nhiên trong chiếc cóng để những thứ của ông nội tôi!
Hai chiếc đĩa, hai cuốn sách, một chiếc hộp sơn đen.
Tôi nghĩ một lúc rồi chỉ lấy hai cuốn sách, sau đó đạy cóng lại, lát gạch lên như cũ.
Xong xuôi, tôi rửa tay, đặt hai cuốn sách lên đùi, tôi phải xem kỹ xem trong những cuốn sách đó rút cuộc là viết những gì mà có thể khiến cho người ta nếu xem bói cho mình thì sẽ phải chết.
Đầu tiên tôi giở cuốn “Ma Y Tướng Pháp”, thấy bên trong có chữ viết và có hình. Chữ viết là những câu khẩu quyết (văn vần), còn hình thì là những hình vẽ mặt, các bộ phận trên mặt, đầu, thân hình và bàn tay người.
Loại sách như thế này tôi cũng vẫn thường thấy ở các quầy hàng rong, chẳng có gì thú vị, nên xem mấy trang xong, tôi bèn đặt xuống.
Tôi lại cầm cuốn “Nghĩa Sơn Công Lục” lên xem, thấy ở phần mục lục đề: Thiên Mở đầu, thiên Lý, thiên Mưu, thiên Tướng, thiên Tà”.
Sau khi mở bên trong thì thấy toàn là bút tích dày đặc của ông nội tôi, mở đến trang cuối cùng thì thấy trên đó viết mấy hàng chữ lớn: Nguyệt khuyết kỳ bán, thiên thư tồn di, bất tiếu tử tôn, miễn dĩ hoàn bích.
Tôi ngây người một lúc, theo ý tứ câu này, lẽ nào đây chỉ là nửa bộ sách?
Ngây người một lúc, tiện tay tôi lật mấy trang và đọc thấy một khẩu quyết trong phần Tướng Hình ở thiên Tướng như sau: “Cốt bất tủng hề thả bất lộ, hựu yếu viên thanh khiêm tú khí. Cốt vi dương hề nhục vi âm, âm bất đa hề dương bất phụ. Nhược đắc âm dương cốt nhục quân, thiếu niên bất quý chung thân phú”. (Nghĩa là: Xương không nhô không lộ lại tròn trịa, thanh tú. Xương là dương, thịt là âm, âm không nhiều và dương cũng không tăng. Nếu âm dương cân bằng thì tuổi trẻ không giàu có, cuối đời cũng phú quý.”
Đọc xong đoạn đó, tôi trầm ngâm một hồi, ngẫm nghĩ về ý tứ trong khẩu quyết đó, bụng nghĩ thầm: Quả nhiên là một cuốn sách xem tướng đoán mệnh, chỉ có điều không biết nó có chuẩn xác hay không?
Tôi giở đến trang cuối cùng của cuốn sách, bất ngờ khi thấy trên bìa cuối viết một đoạn như sau: “Nguyên Phương, khi cháu nhìn thấy cuốn sách này thì ông đã không còn trên đời này nữa, nhưng việc cháu đọc được cuốn sách này thì coi như đời ông đã mãn nguyện lắm rồi. Ông biết, cái chết của ông đã mang lại cho cháu những rắc rối không đáng có, nhưng nếu muốn làm rõ tại sao ông chết thì cháu phải gia nhập giới tướng thuật, nếu không thì ông chết không nhắm mắt được. Mà muốn bước vào giới tướng thuật thì hãy bắt đầu từ “Nghĩa Sơn Công Lục”, chỉ có điều đây chỉ là nửa bộ sách, còn nửa bộ nữa đã bị thất lạc mấy trăm năm nay rồi. Ông hy vọng cháu sẽ nỗ lực đi tìm nửa bộ sách kia, vì nó liên quan đến một bí mật vô cùng to lớn, mà bí mật đó lại liên quan đến Sự ton vong của gia tộc Trần Thị chúng ta! Hãy nhớ lấy, chỉ có thể là cháu, không thể là người khác. Nếu cháu hỏi ông rằng tại sao, thì ông cũng chỉ có thể nói rằng, ý trời là như vậy, bố cháu không tìm được thiên thư đó, chú Hai của cháu càng không được. Khà khà, ông biết là cháu sẽ nói ông phong kiến, mê tín, không sao, ông nghĩ sau này cháu sẽ hiểu. Ông đã vì cháu mà làm rất nhiều việc, đừng phụ lòng ông, nếu gặp phải những chuyện khó hiểu thì hãy tìm bà nội của cháu, bà ấy sẽ giúp cháu. Người già khó tránh khỏi nói nhiều, đừng trách ông nhiều lời, khà khà… Ông biết sau khi ông mất, nhất định bố cháu sẽ giấu cuốn sách này đi và không đưa nó cho cháu, nhưng ông hiểu cháu, nhất định cháu sẽ tìm thấy. Tìm thấy sách rồi, hãy đến thăm ông nhé, nhớ là mang theo một chai rượu, ông ở dưới đó đang thèm lắm.”
Quả nhiên ông nội đã để lại lời dặn dò.
Đọc xong những dòng này, mắt tôi chợt nhòe đi, đồng thời, lòng tôi cũng bắt đầu rối bời. Lượng thông tin hàm chứa trong những lời di chúc của ông rất nhiều, vừa nhắc đến bí mật về cái chết của ông, vừa nói đến bí mật thiếu khuyết của bộ “Nghĩa Sơn Công Lục”, lại còn cả bí mật động trời ẩn chứa trong “Thần Tướng Thiên Thư”, thậm chí là cả bí mật về sự tồn vong của gia tộc Trần Thị nữa…
Tôi vừa thấy bàng hoàng vừa thấy rối ren, nguyên nhân cái chết của ông cũng đã đủ ly kỳ rồi, sao bây giờ lại còn kéo thêm cả số phận của gia tộc mình nữa?
Lẽ nào không tìm được cuốn sách thiếu khuyết đó thì gia tộc của tôi sẽ biến mất trên thế gian này?
Đây quả thực là một chuyện hoang đường!
Trầm ngâm một hồi lâu, nhưng tôi vẫn không tìm ra được manh mối nào nên tự nhủ: “Cứ như lời ông nội thì muốn vén tấm màn bí mật của những chuyện này, nhất định phải thâm nhập vào giới tướng thuật.”
Mặc dù tôi không mấy tin vào những điều đó, song ngây người một lúc tôi lại tự hỏi mình: “Mình còn có sự lựa chọn khác không?”
Không còn sớm nữa, sợ sau khi về bố tôi sẽ phát hiện ra chuyện cuốn sách đã bị lấy mất, nên tôi không dám đọc nhiều, vội đem cuốn sách giấu vào đám chăn gối trong giường.
Khi bố mẹ về, tôi làm như không có chuyện gì, rồi thầm để ý và thấy ánh mắt của bố liếc nhìn xuống mảnh sân gạch, song hình như ông không phát hiện ra điều gì.
Chiều muộn, ăn cơm xong, tôi nói với bố mẹ là muốn ra ngoài đi dạo, sau đó một mình đi ra nghĩa trang. Tôi muốn tới thăm ông nội tôi. Tôi mang theo một chai rượu, là loại rượu mà khi còn sống ông tôi thích nhất.
“Ông ơi, cháu đã tìm thấy di vật ông để lại rồi. Cháu sẽ nghiên cứ “Nghĩa Sơn Công Lục” cho dù là vì chuyện cháu đánh cược với ông năm ấy, hay là vì nguyên nhân cái chết của ông, hoặc là vì bí mật của cuốn thiên thư, sự tồn vong của gia tộc Ma Y.”
Tôi ngồi trước mộ ông, rót ra một chén rượu rồi đổ xuống đất, sau đó rót tiếp một chén khác, lẩm nhẩm một mình: “Ông ơi, ông cháu ta cùng uống nhé!” Nói xong tôi uống hết chén rượu đó.
Cứ như vậy, tôi cứ rót một chén đổ xuống đất xong thì lại rót một chén khác và uống cho đến khi cạn cả một chai rượu, lúc này trời cũng đã tối hẳn.
Rượu làm tôi thấy đầu óc lơ mơ, rồi sau đó ngả người xuống bên cạnh mộ và ngủ thiếp đi. Tiếp đó, tôi mơ một giấc mơ. Trong giấc mơ, dường như tôi đã gặp ông.
Một cơn gió lạnh lùa tới xào xạc. Tôi thấy đầu chợt đau nhói và bừng tỉnh.
Cả một khu nghĩa địa rộng mênh mông, dưới ánh trăng bàng bạc lại càng trở lên trống rỗng. Tôi đưa mắt ngơ ngác nhìn bốn xung quanh và lẩm bẩm: “Sao mình lại ngủ ở mộ thế này? Không biết bây giờ là mấy giờ rồi?”
Tôi định nhìn đồng hồ, nhưng trời tối quá nên không nhìn rõ. Đúng lúc đó thì từ trong đám cỏ hoang cách đó không xa, vang lên một tiếng sột soạt, tiếp đó là một bóng đen lắc lư lướt đến bên ngôi mộ.
“Ối!”
Mặc dù tôi luôn tự tin là trên đời này không có ma, nhưng nhìn thấy cảnh tượng đó, tôi vẫn không khỏi nổi gai ốc, hơi rượu bỗng chốc biến thành mồ hôi túa ra.
Dưới ánh trăng sao thưa thớt, bên ngôi mộ giữa những cơn gió lạnh xào xạc, một bóng đen lắc lư, nhanh chóng tiến đến gần tôi. Tôi lấy hết can đảm quát lên: “Ai đấy!”
Người kia kêu lên một tiếng rồi đáp: “Thì ra là Nguyên Phương, tại sao cháu lại ở đây?”
Lúc đó tôi mới nhìn rõ, thì ra người ấy là chú Trần Hồng Đức.
“Chú Hai?” Tôi thốt lên ngạc nhiên, đồng thời mũi ngửi thấy mùi rượu tỏa ra từ người chú, không nén được lên tiếng hỏi: “Chú cũng uống rượu à?”
Chú Hai ngồi phịch xuống, đáp với vẻ nhăn nhó: “Chú cảm thấy khó sống quá nên mượn rượu tiêu sầu thôi!”
Tôi biết rõ chú là người sợ vợ, từ bộ dạng của chú có thể đoán ngay được là chú đã cãi nhau với thím Hai nên buồn bực uống rượu rồi chạy ra mộ để kể lể với ông nội.
Từ trước tới giờ, chú Hai luôn là người già rồi mà chẳng khác trẻ con, suốt ngày cứ hề hề hà hà, hay đàn đúm chơi bời với những người đáng hàng con cháu. Quan hệ giữa chú và tôi khá thân thiết, ngày thường chúng tôi trêu đùa nhau quen rồi, nên khi thấy chú ngồi phệt xuống đất thở dài thườn thượt thì tôi trêu: “Chú Hai, chắc ở nhà lại phải quỳ bàn giặt rồi chứ gì?”
Mặt chú lập tức dài như cái bơm, chú đáp: “Không phải quỳ, mà là bà ấy cứ bám riết lấy chú để đánh, túm tai chú gào thét, chú chịu không nổi! Chú chợt nghĩ ra, chạy đến đây chắc chắn bà ấy sẽ không tìm thấy, mà cho dù có tìm thấy thì cũng không dám gây chuyện với chú trước mặt ông nội! Nguyên Phương ơi, mày phải rút kinh nghiệm từ chú, sau này nhất định không được lấy vợ như con hổ cái đấy!”
Tôi bật cười, rồi chợt nhớ đến lời của thím Hai trong lúc chôn cất ông nội, trong lòng thầm nghĩ: “Con người ta thường rượu vào lời ra, hơn nữa còn thường là những lời nói thật, lúc này mà không hỏi chú ấy thì còn đợi đến khi nào?”
Thế là tôi ngồi xuống bên cạnh chú, hỏi: “Chú Hai, cháu hỏi chú một chuyện nhé, cái câu: Xem cho người không xem cho mình, nếu xem cho mình thì chết là cái chắc, có đúng là câu mà tổ tiên truyền dạy không?”
“Đó chỉ là một quy định bất thành văn.” Chú Hai đáp ngay. “Vì tướng thuật của họ Trần nhà chúng ta rất đỉnh, từ xưa tới nay đã bói là không có sai, nhưng tục ngữ có câu: Thiên cơ bất khả lộ, tướng thuật chính là học vấn về việc xem trộm thiên cơ, vì thế mà càng xem chuẩn, mức độ tiết lộ thiên cơ càng nghiêm trọng, nếu xem cho người khác thì thôi, còn nếu xem cho mình, nếu thấy những điều không tốt thì có người khó tránh khỏi ý nghĩ tìm cách thay đổi số phận của mình. Có câu, là gì nhỉ? À, phải rồi, có câu: ‘’Số phận của ta là do ta, không phải do trời chính là cái ý đó. Nhưng cháu nghĩ xem, xem trộm thiên cơ đã là có tội rồi, định thay đổi số phận thì lại càng là tội lớn nghịch ý trời, nhẹ thì cũng là giảm thọ, lớn thì là mất mạng, nên tổ tiên chúng ta mới có câu truyền lại đời sau như thế.”
Quả nhiên đã có lời truyền dạy như vậy của tổ tiên!