Chương 6:
Căn nhà dữ và viên đá linh
Ba tháng trôi qua rất nhanh, tôi đã đọc tới hơn chục lần cuốn “Nghĩa Sơn Công Lục”, vốn dĩ tôi là người có trí nhớ cực tốt, nên bây giờ đã có thể đọc thuộc không thiếu một chữ nhiều nội dung của “Nghĩa Sơn Công Lục”.
Chỉ có điều nhớ chỉ là nhớ, trong đó có một nửa nội dung, đặc biệt một phần của thiên Lý, thiên Mưu tôi hiểu không sâu lắm.
Một người tiếp xúc với một đồ vật nào đó lâu, thì tự nhiên cũng sẽ có cảm giác gần gũi và tin tưởng nó. Tôi hoàn toàn không biết nghiên cứu kỹ “Nghĩa Sơn Công Lục” sẽ mang lại cho mình hậu quả gì, song nó thực sự đã dần dần lặng lẽ ảnh hưởng tới tôi, ít nhất thì tôi cũng đã không còn cho rằng tướng thuật hoàn toàn là mê tín nữa.
Tôi nhớ đến những hành động của Lệ Thiên Thu trước mộ ông nội tôi vào buổi tối hôm đó, lúc ấy tôi không hiểu rõ tình hình. Bây giờ nghĩ kỹ lại thì mới hiểu rằng đối phương đã kiểm tra nhãn lực, thính lực và khứu giác của tôi.
Trong “Nghĩa Sơn Công Lục” cũng nói, muốn học tướng thuật, điều quan trọng nhất là phải rèn luyện mắt, tai, mũi. “Nghĩa Sơn Công Lục” đã viết như sau về việc này: “Mục chi lực tại hồ tu, nhĩ chi lực tại hồ thần, tỵ chi lực tại hồ thiên.”
Tôi nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy ý đó không ngoài việc nói rằng nhãn lực của con người là do rèn luyện mà ra, còn nhĩ lực thì là do sự chú tâm, chỉ cần chăm chú, tập trung là sẽ được, còn khứu giác thì là do bẩm sinh, vì cho dù rèn luyện tốt đến mấy thì mũi của người cũng không thể nào thính bằng mũi chó.
Mặc dù “Nghĩa Sơn Công Lục” nói như vậy, nhưng lại không có ghi chép gì về phương pháp rèn luyện mắt, do đó việc rèn luyện như thế nào thì lại hoàn toàn là mình phải tự hiểu.
Tôi nghĩ đến hai cách rèn luyện mắt, một là cách luyện bắn cung của Hậu Nghệ, một là cách luyện mắt của ông nội tôi.
“Hậu Nghệ luyện bắn cung” là một câu chuyện tôi đọc được từ hồi bé. Trong truyện nói rằng để rèn luyện đôi mắt của mình, nhằm đạt tới bách phát bách trúng, Hậu Nghệ đã treo một sợi tóc trong không trung, sau đó mở to mắt, đứng im nhìn sợi tóc đó. Bảy ngày sau, sợi tóc đó trở nên to bằng một chiếc đĩa trong con mắt của Hậu Nghệ, 30 ngày sau thì nó lại trở thành một hòn đá mài trong mắt ông, đồng thời tay cung của Hậu Nghệ cũng đã rèn luyện thành công, đạt tới mức bách phát bách trúng, bởi vì mục tiêu trong mắt ông đều rất to, có muốn không bắn trúng cũng khó.
Còn cách luyện mắt của ông nội thì là do tôi vô tình bắt gặp hồi tôi còn nhỏ. Sau khi ông nội tôi về hưu, tôi đã nhiều lần nhìn thấy ông đập quả bóng bàn xuống bàn bóng rồi dùng mắt ngắm. Lúc mới đầu, tôi không biết ông đang làm gì, xem nhiều lần như vậy, tôi liền hỏi ông đang làm gì. Ông nói, mắt người già kém, nên phải luyện mắt hàng ngày thì mới được. Do việc bật lên bật xuống một cách có quy tắc của quả bóng, chỉ cần mắt cố định trên quả bóng thì sẽ luyện được thần nhãn.
Tôi bắt đầu luyện mắt bằng hai cách đó, có điều đều phải tập lén, vì tôi không muốn bố mẹ tôi nhìn thấy.
Bản tính của tôi rất kiên trì. Cứ kiên trì tập như vậy trong ba tháng theo hai cách đó, mắt tôi có lúc bị cay, bị ngứa, bị đỏ, bị sưng, thậm chí có lúc nhìn bị mờ, tôi vẫn cứ kiên trì tập luyện.
Nhưng kết quả rèn luyện cuối cùng là tôi hoàn toàn không đạt được đến ngưỡng của Hậu Nghệ, đừng nói là nhìn sợi tóc to thành chiếc đĩa, mà đến to bằng tách trà cũng chẳng được. Có điều, không nhìn thấy đồ vật to lên, nhưng hai mắt của tôi đã có thể nhìn thấy những vật rất bé, nhiều thứ thậm chí như một hạt bụi trong không khí, chỉ bằng mắt thường là tôi đã có thể nhìn thấy, hơn nữa nhìn thấy rất rõ, có những vật mà người khác nhìn mãi không ra thì tôi vẫn có thể nhìn ra. Có điều, phần lớn những vật bé nhỏ đó đều chỉ thoáng qua, thoáng một cái là tôi đã có thể nhìn thấy, nhưng nhìn kỹ thì không thấy nữa. Tôi cảm thấy thị lực của mình vẫn chưa đạt, song không cảm thấy có gì lạ, vì tôi cũng đã đạt được những thành công đáng kể, cho dù quả bóng bàn bật lên bật xuống thế nào thì tôi cũng đều giữ mắt cố định một chỗ, và khi đảo con ngươi thì rất thần thái và linh hoạt.
Sau khi rèn luyện mắt xong, tôi lại tập phân biệt khá kỹ 12 loại âm thanh và 15 loại mùi vị ghi chép trong “Nghĩa Sơn Công Lục”, rồi ghi nhớ kỹ và chuẩn xác theo cách của mình.
Mặc dù tiến triển của việc rèn luyện thính giác và khứu giác rất chậm, nhưng tôi vẫn cứ kiên trì.
Đêm 30 Tết năm đó cận kề rất nhanh, sau khi thắp hương và đốt tiền vàng cho ông nội tôi thì mấy ngày sau đó cũng trôi qua rất nhanh. Buổi tối ngày mùng Sáu Tết, chú Hai Trần Hồng Đức bỗng nhiên đến nhà tôi với vẻ vội vàng.
Mặc dù chú Hai và bố tôi cùng một mẹ đẻ ra nhưng tính nết thì lại hoàn toàn trái ngược.
Bố tôi nghiêm nghị, điềm tĩnh, còn chú Hai thì lại bán trời không văn tự, dường như cả đời chú chỉ thích ba việc: đánh bài, chém gió và đi chơi, vì thế mà người trong thôn nhìn thấy bố tôi thì đều tỏ ra kính trọng, còn nhìn thấy chú thì trêu chọc, mắng chửi, một điều hai điều đều gọi là “Nhị Đức Tử”, chứ không ai gọi bằng tên thật của chú.
Bình thường thì giờ này lẽ ra chú Hai đang ngồi như đóng đinh ở chỗ bài bạc, sét đánh bên tai cũng cứ kệ, thế mà không biết hôm nay tại sao lại đến nhà tôi.
Vào trong nhà, chú ngồi ngay xuống ghế, uống một ngụm trà rồi lập tức tỏ bộ mặt hoảng hốt sợ hãi, nói: “Anh Cả, em có chuyện lớn rồi!”
Bố tôi biết rõ tính tình chú, chuyện bằng cái móng tay cũng cứ làm như thể chuyện lớn lắm, vì thế chỉ nhìn chú một cái rồi hỏi: “Chuyện gì?”
Chú Hai lại nhấp một ngụm trà, nói: “Nguyên Phương, trà này ngon đấy, mua ở đâu vậy? Cho chú một cân. À, anh Cả, anh có nhớ cái ông già cứng đầu ở Đại Hà Trang không?”
Đại Hà Trang?
Tôi đang há mồm trợn mắt lắng nghe chuyện của chú, bỗng nhiên nghe thấy ba từ “Đại Hà Trang”, thì tự nhiên nhớ ra rằng Lệ Thiên Thu cũng đã từng nhắc đến địa danh này, vì thế càng dỏng tai nghe chú nói.
Hai bên bờ sông Dĩnh, lấy con sông làm ranh giới, phía đông của sông Dĩnh là đồng bằng xen kẽ một ít gò đồi, thôn Trần Gia ở khu vực này, phía tây sông Dĩnh là đồi núi, Đại Hà Trang là một thôn miền núi hẻo lánh ở đây, mặc dù môi trường địa lý rất khắc nghiệt, nhưng lại có lịch sử lâu đời.
Bố tôi ngẫm nghĩ một chút rồi đáp: “Có nhớ.”
Chú Hai nói: “Mười mấy năm trước, vợ của Lão Khuất Đầu mời bố chúng ta đến xem gia trạch, hôm đó em đi cùng với bố. Gia đình nhà họ có một căn nhà cũ, sau khi xem xong, bố chúng ta khẳng định ngôi nhà đó rất không an lành, cái ông Lão Khuất Đầu đó không tin, đuổi bố chúng ta về. Anh có biết trên đường trở về nhà bố nói gì không? Bố nói rằng ngôi nhà đó thực sự là ngôi nhà rất dữ!”
Nói đến đây, chú Hai vỗ đùi rồi cúi người xuống, hạ giọng nói với vẻ bí hiểm: “Đúng buổi chiều hôm nay đó, người em của Lão Khuất Đầu là Nhị Não Đại đến gặp em và nói Lão Khuất Đầu phát điên, bị ma nhập!”
Nghe đến đây, tôi rất lấy làm phản cảm, bèn lên tiếng: “Chú Hai, đừng có mà mê tín, làm gì có chuyện ma nhập!”
Chú Hai lập tức tỏ vẻ rất sợ hãi, đáp: “Sao lại không có chuyện! Người bị ma nhập thì giọng nói, nội dung nói và cả vẻ mặt cũng như động tác đều là của người đã chết.”
Tôi ngây người một chút, rồi giải thích: “Đó là chứng thần kinh phân liệt! Em gái cháu học y, phải bảo nó phổ cập cho chú một ít kiến thức về y học mới được!”
Chú Hai vội nói: “Cháu vẫn còn chưa tin à? Đâu phải là bệnh thần kinh? Bệnh thần kinh có chết người không?”
Tôi đáp: “Chỉ cần là bệnh thì khi bệnh trọng cũng đều có khả năng chết người. Chú chỉ nói là Lão Khuất Đầu phát điên, ai chết?”
Chú Hai nói: “Lão Khuất Đầu có ba người con trai, thì hai đứa con trong số đó lần lượt chết, nếu là bệnh thần kinh, thì sẽ chẳng thể nào mà cả ba cha con trong một nhà đều mắc bệnh như thế.”
Tôi lại ngây người một lát, rồi mới đáp: “Hai đứa con ông ấy chết rồi à?”
Chú Hai đáp: “Đúng thế, cũng với triệu chứng và cái chết như nhau!” Tôi trầm ngâm một lúc rồi nói: “Bệnh tâm thần sẽ di truyền, nên chuyện đó cũng không có gì là lạ.”
Chú Hai cười nhạt: “Những điều cháu nói chú Hai đây cũng biết. Nhưng điều quan trọng là, Lão Khuất Đầu là bố, nếu là di truyền, thì tại sao lại là hai con trai của ông ta phát bệnh và chết trước rồi mới đến ông ta, chắc hẳn không thể nào là con trai ông ấy di truyền bệnh sang cho bố được, đúng không?”
Tôi đáp: “Đã đi khám ở chỗ bác sỹ chưa?”
Chú Hai đáp: “Bác sỹ không dám khám.”
Tôi ngạc nhiên hỏi: “Tại sao?”
Chú Hai trề môi đáp: “Vì rất đáng sợ, khi mà chúng lên cơn nếu không để mắt đến chúng thì chúng cũng không thèm để ý đến ai và cứ nói linh tinh với vẻ ngây ngây dại dại. Nhưng nếu mà anh chọc tức chúng, thì chúng sẽ điên khùng sống chết với anh và không ai có thể ngăn lại được.”
Tôi bất giác rùng mình, đáp: “Đó là do bệnh đến nước không chữa được.”
Chú Hai lại cười nhạt: “Không phải là bệnh đến nước không chữa được mà là do ma làm! Con trai thứ hai của Lão Khuất Đầu bị trước rồi con trai cả ông ta bị sau, đến bây giờ thì Lão Khuất Đầu cũng bị điên rồi. Thời gian bị điên của ba người khác nhau, nhưng biểu hiện thì giống hệt nhau và cũng nói những lời như nhau, cũng những động tác như nhau, thế mới kỳ lạ! Vì vậy, chú dám chắc họ bị cùng một con ma nhập vào!”
Tôi cũng cười nhạt, nói: “Nếu đúng là ma làm thật, thì tại sao không phải là cả nhà đều xảy ra chuyện? Chẳng phải ông ấy có ba người con trai sao? Vậy còn người con trai nữa thì sao? Và cả vợ ông ta nữa?”
Chú Hai đáp: “Năm xưa, chính là vợ ông ta nhờ ông nội đến xem nhà cho, và bà ấy rất tin vào những lời ông nội nói. Hồi đó ông nội đã đưa cho bà ấy một ít thuốc dùng để trừ âm đuổi hàn, và còn đưa cho bà ấy một vật tránh tà nữa. Có lẽ những thứ đó đã phát huy tác dụng. Còn người con trai nhỏ của Lão Khuất Đầu thì được gửi nuôi ở nhà bà ngoại, sau khi xảy ra chuyện không dám về nhà nữa nên mới không xảy ra chuyện.”
Tôi gặng hỏi đến cùng: “Vậy, ông nội đã đưa cho bà ấy vật gì để tránh tà?”
Chú Hai đáp: “Một miếng đá, một miếng đá nhỏ hình chữ “Đinh”, ông nội viết lên đó một ít chữ, nói rằng đó là hòn đá thiêng có thể trấn tà ma.”
Đá thiêng?
Tôi chợt nhớ đến thiên Tà trong “Nghĩa Sơn Công Lục” có viết rằng: “Sơn dương chi thạch, trú hữu nhật chước, dạ hữu nguyệt tẩy, tụ nhật nguyệt chi tinh hoa, bạo vu sơn điện, thụ lôi phách điện kích nhi bất toái liệt, hữu cương trực chi khí, khả thủ vi linh thạch, dĩ trấn tà tụy.”
Đại ý là đá hướng về phía mặt trời trên núi, được tắm nắng gội mưa, chịu sét đánh điện kích, lại hấp thu tinh hoa của nhật nguyệt nên có khí linh thiêng, có thể dùng để trấn trạch trừ tà.
Cho nên, trước cửa nhà của nhiều gia đình từ xưa đến nay thường dựng những tấm đá lớn, có tấm bên trên còn viết: “Thạch cảm đương”, hoặc “Thái Sơn thạch cảm đương” dùng để trấn trạch, trừ tà.
Trong lúc tôi đang nghĩ linh tinh thì bố tôi hỏi chú Hai: “Vậy chú sang nhà tôi làm gì? Tôi không biết đuổi ma đâu.”
Chú Hai cười, đáp: “Nếu bố chúng ta còn thì em không đến tìm anh đâu. Nói thật lòng, em học được một chút từ bố, biết cũng không ít, nhưng lại không có cách nên làm sao mà phá giải được, anh cho em mượn cuốn “Nghĩa Sơn Công Lục” thì còn có thể.”